Thứ Bảy, 29 tháng 6, 2019

Tiểu đường 11. Uống thuốc hạ đường kết qủa hư thận, lọc thận làm giảm tuổi thọ

Cả thế giới đang bị lừa về bệnh tiểu đường, tôi đường-huyết cao 300-400mg/dl = 16.7-22.2mmol/l trong 40 năm, bây giờ 80 tuổi vẫn khỏe mạnh không đi bác sĩ, nên tôi khẳng định chúng ta đang chết về bệnh đường huyết thấp mới gây ra nhiều bệnh nan y và hôn mê chết người
Hãy xem các bài này để biết rõ sự thật :

Tiểu đường 11.Uống thuốc hạ đường kết qủa hư thận, lọc thận làm giảm tuổi thọ.




Xem chi tiết bài viết quan trọng và đầy đủ chi tiết hơn trong link này :

Tiểu đường 11. Uống thuốc hạ đường kết qủa hư thận, tây y không chữa thận mà lọc thận là sai làm giảm tuổi thọ. 4 loại thuốc phục hồi thận.

I-CHỨC NĂNG LỌC CỦA THẬN :

Thận được cấu tạo lọc máu để loại bỏ máu xấu chỉ giữ lại protein và tế bào máu cho cơ thể, vì trong máu xấu có chứa các chất thải trong máu như chất vôi trong bệnh sạn thận, acid uric, uré, amoniac, chất đạm albumin, creatinin, đường, muối dư thừa qua việc bài tiết nước tiểu, và thu hồi lại những chất cần thiết, còn creatin bị thoái biến trong các cơ thành creatinin, chất này được đưa trở lại tuần hoàn, rồi được thải trừ qua thận. Ở thận, creatinin được lọc qua các cầu thận và không được ống thận tái hấp thu.
Thận còn có chức năng điều hòa lượng nước và muối khoáng vừa đủ để giữ ổn định áp huyết cho tim mạch, và ổn định đường huyết .

Cơ thể có 2 quả thận và vỏ thượng thận :

1-Vỏ thượng thận như hình cái mũ chụp trên quả thận, chia làm 3 lớp có 3 chức năng khác nhau :

-Lớp ngoài hay lớp cầu gọi là vỏ thượng thận chứa các hormon điều hòa muối khoáng hay còn gọi là các chất điện giải để giữ lại Na và thải Kali trong máu giúp điều hòa áp huyết.

-Lớp giữa hay lớp sợi tiết hormon điều hòa đường huyết, trong đó có Cortisol là hormon có tác dụng chuyển hóa glucose từ protein và lipid. Khi cơ thể cần, dưới tác dụng của Cortisol, glucose có thể được tổng hợp từ acid amin và acid béo do sự phân giải của protein và lipid.
-Lớp trong hay lớp lưới tiết hormon điều hòa sinh dục nam tính anđrogen, ngoài ra còn có một lượng không đáng kể estrogen.
Androgen có tác dụng lên sự phát triển các đặc tính nam. Đến tuổi dậy thì, androgen cùng với hormon tinh hoàn testosteron kích thích cơ quan sinh dục phát triển. Tuyến trên thận ở nữ cũng tiết loại hormon này, nếu tiết nhiều trong thời kỳ còn là thai nhi, có thể phát triển tính nam (thể hiện ở cơ quan sinh sản về bề ngoài hơi giống nam giới).

Miền tủy: là một bộ phận thuộc hệ thần kinh giao cảm, được coi như hạch giao cảm, bao gồm các noron sau hạch đã bị biến đổi, chỉ có thân mà không có sợi nhánh và sợi trục được chi phối bởi các sợi trước hạch của hệ giao cảm. Khi bị kích thích, các tế bào tuyến tiết ra adrenalin và noradrenalin có tác dụng giống với thần kinh giao cảm, nhưng hiệu quả có tác dụng kéo dài hơn khoảng mười lần vì chúng bị phân hủy chậm hơn chất truyền tin thần kinh (chất môi giới thần kinh). Tác dụng của hormon tủy tuyến trên thận là làm tăng nhịp tim, tăng lực co tim, tăng nhịp thở, dãn phế quản, tăng huyết áp, tăng đường huyết.

2-Quả thận :
Thận có hình hạt đậu màu nâu nhạt, mặt trước nhẵn bóng còn mặt sau sần sùi, có một bờ lồi, một bờ lõm. Mỗi quả thận có kích thước chiều dài khoảng 10 – 12.5 cm, rộng 5–6 cm, dày 3–4 cm và nặng khoảng 170g.
Cấu tạo của thận gồm có :
Ở chính giữa bờ cong lõm là phần rốn thận, ở đây có ống nước tiểu do thận thải chất cặn ra sau khi lọc, dây thần kinh và 2 mạch máu chính, một mạch đưa máu đen vào thận để các tiểu cầu thận nephron lọc máu xấu, một mạch đưa máu tốt đã lọc xong thoát ra ngoài về gan để gan cung cấp máu mới cho tim tuần hoàn, vùng ngoài cùng là phần vỏ có màu đỏ sẫm do có nhiều mao mạch, dày khoảng 7-10mm; phần kế tiếp là phần tủy và bể thận có chứa các mô mỡ, dây thần kinh và mạch.
Mỗi quả thận của người được cấu tạo hơn 1 triệu đơn vị thận gọi là nephron hay tiểu cầu thận, vừa là đơn vị cấu tạo thận vừa là đơn vị chức năng của thận. Mỗi đơn vị chức năng thận gồm có tiểu cầu thận và ống thận.
Cầu thận gồm quản cầu Malpighi và nang Bowman. Bowman là một túi bọc quản cầu, thành nang có nhiều lỗ nhỏ. Quản cầu Malpighi có dạng khối hình cầu được tạo thành từ khoảng 50 mao mạch xếp song song. Ngăn cách giữa nang và mao mạch là một màng lọc mỏng, có chức năng lọc các chất từ mao mạch sang nang.
Ống thận gồm ống lượn xa, ống lượn gần và quai Henle. Dịch lọc từ nang đổ vào ống lượn gần, sau đó đi đến quai Henle. Ở đầu lên của quai Henle tiếp với ống lượn xa, từ ống lượn xa dịch lọc đổ vào ống góp. Ống góp không thuộc đơn vị thận, nó có chức năng nhận dịch lọc từ một số nephron để đổ vào bể thận.

3-Chức năng thận :
Thận giúp hòa các chất hòa tan trong máu, độ pH của dịch ngoại bào và quá trình tổng hợp của các tế bào máu: thận giúp điều hòa nồng độ các ion có trong máu. Ngoài ra, thông qua việc tổng hợp vitamin D để hỗ trợ kiểm soát lượng calci trong máu.
Thận điều tiết sự cân bằng acid-base để ngăn ngừa tình trạng dư acid trong máu.
Thận cũng có một chức năng quan trọng trong việc điều hòa huyết áp bằng cách sản xuất ra các hormon. Các hormon từ thận như Erythropoietin có tác dụng kiểm soát quá trình sản xuất tế bào máu trong tủy xương. Thận cũng góp phần ảnh hưởng đến lượng calci trong máu và quá trình sản xuất vitamin D. Đây là vitamin cần thiết trong quá trình khoáng hóa, giúp ổn định xương.

a-Chức năng của một Nephron
Một nephron chịu trách nhiệm loại bỏ các chất thải, các ion đi lạc và nước thừa ra khỏi máu. Máu đi qua cầu thận, được bao quanh bởi nang cầu thận. Khi tim bơm máu, áp lực được tạo ra sẽ đẩy các phân tử nhỏ qua mao mạch và vào nang cầu thận. Đây là, chức năng vật lý của nephron. Máu xấu phải đi qua một loạt các ống lượn. Các tế bào trong mỗi phần của ống có các phân tử khác nhau mà chúng muốn hấp thụ. Các phân tử được bài tiết vẫn còn trong ống, trong khi nước, glucose và các phân tử có lợi khác hoạt động trở lại vào máu. Khi máu xấu đi xuống các ống, các tế bào ngày càng được gạn lọc gây ra một lượng nước tối đa được chiết xuất từ bộ lọc tiểu cầu trước khi nó thoát ra khỏi nephron. Máu bao quanh nephron trở lại cơ thể thông qua tĩnh mạch nội bào, không chứa độc tố và các chất dư thừa. Phần cặn bã là nước tiểu di chuyển qua ống thu thập đến bàng quang, nơi nó sẽ được lưu trữ.

b-Điều kiện của chức năng lọc thận tốt:
Nếu thận khỏe, lượng máu đen theo ống thận qua hệ thống lọc nephron để lọc chất thải và độc tố, lấy máu sạch mới và giữ lại các chất cần thiết, còn lại các chất dư thừa trở thành nước tiểu, mỗi giờ nước và máu qua thận lọc khoảng 6 lít, chắt ra được 1ml nước tiểu, như vậy trong 24 giờ, thận lọc 144 lít máu chắt lọc ra nước tiểu được 24ml/ 1kg trọng lượng cơ thể. Nếu một người nặng 100kg, thì thận lọc ra được 2,4 lít nước tiểu, nặng 50-60 kg thận lọc ra được khoảng 1,2-1,5 lít nước tiểu . Để chức năng lọc thận tốt, chúng ta chỉ cần uống nước bù lại chỗ số nước tiểu đã mất mỗi ngày. Nếu uống nhiều nước thận lọc qúa tải chức năng thận sẽ bị suy yếu hết khả năng lọc, chúng ta cũng sẽ phải bị lọc thận nhân tạo.

II-TRƯỜNG HỢP NÀO PHẢI LỌC THẬN NHÂN TẠO .

Ngược lại, khi uống nước hay từ thức ăn có canh khoảng 2
ít/ngày, mà nước tiểu không ra đủ 2 lít, mà mỗi ngày càng ra ít hơn, chứng tỏ chức năng thận bị suy yếu..
Những chất cặn sẽ tích tụ ở ngay trong thận gây tắc nghẽn và làm thận càng suy yếu hơn. Từ đó, ảnh hưởng rất nhiều đến cơ quan khác trong cơ thể như bàng quang, niệu đạo, tuyến tiền liệt,… và ảnh hưởng đến ngoại hình như da đổi màu, rụng tóc, hơi thở có mùi céton….
Thận suy chia ra 4 cấp độ từ nhẹ đến nặng, theo tây y khi thận suy là không có chữa cho thận phục hồi chức năng lọc thận được, nên con người cần phải chạy thận có nghĩa là phải lọc thận bằng máy lọc nhân tạo.

Suy thận độ 1
Là cấp độ nhẹ nhất trong 4 giai đoạn của bệnh, có dấu hiệu :
Chán ăn, mệt mỏi, hoa mắt, chóng mặt do thiếu máu, đau nhức hai bên lưng
Chỉ số creatinin và ure trong máu tăng vượt mức bình thường, nước tiểu có màu hồng hoặc cam. Nếu được phát hiện sớm và điều trị kịp thời tỷ lệ khỏi bệnh lên tới 90%.

Suy thận độ 2
Mức độ lọc cầu thận còn từ 60 – 89ml/phút, chỉ lọc khoảng 60-80%, có dấu
hiệu:
Kali tăng cao gây ảnh hưởng tới hoạt động của tim mạch, tim có thể ngừng đập và dẫn tới tử vong bất cứ lúc nào.

Suy thận độ 3
Là giai đoạn thận bị tổn thương nghiêm trọng, mức độ lọc cầu thận giảm còn 10 - 15ml/giờ, khoảng 10-15% chức năng thận suy giảm tới 80% và không thể duy trì hoạt động trao đổi chất như bình thường, có dấu hiệu :
Đau nhức cơ vùng mạn sườn, thắt lưng, người bệnh mệt mỏi, khó thở, mất ngủ, da xanh xao. Cơ thể bị tích nước khiến chân tay sưng phù. Lượng nước tiểu thay đổi thất thường: Đi tiểu nhiều lần, nước tiểu có bọt và đổi màu sang vàng đậm, nâu và đỏ do lẫn máu.
Huyết áp tăng cao, loãng xương, thiếu máu,... gây ảnh hưởng nghiêm trọng tới sức khỏe.

Suy thận độ 4
Suy thận độ 4 , thận bị tổn thương tới 90%, mức độ lọc cầu thần cũng giảm rất nhanh chỉ còn từ 15 tới 29ml/phút do đó nguy cơ tử vong rất cao, có dấu hiệu :
Đau tức bụng phía dưới bên phải hoặc bên trái, cao huyết áp, tiểu đường, suy tim, phù phổi, phù não. Để việc điều trị suy thận độ 4 đạt hiệu quả cũng như duy trì sự sống buộc bệnh nhân phải thực hiện biện pháp chạy thận, lọc máu và ghép thận.
Còn bệnh thận mạn tính được chia thành 5 giai đoạn. Bệnh có thể tiến triển trong nhiều năm từ chức năng thận dưới bình thường giai đoạn 1, đến suy thận mạn tính, giai đoạn 5. Dạng mạn tính của bệnh là tổn thương thận vĩnh viễn gây ra bởi các nguyên nhân như tiểu đường, cao huyết áp, các loại nhiễm trùng mô thận khác nhau như viêm cầu thận và lạm dụng một số loại thuốc có thể gây suy giảm chức năng thận trong thời gian dài.

III-4 MỨC ĐỘ SUY THẬN THEO KẾT QỦA XÉT NGHIỆM VỦA TÂY Y.
1-Có thể phân loại từng giai đoạn suy thận theo chỉ số creatinin

Suy thận cấp độ 1: Chỉ số creatinin từ 110 đến dưới 130 µmol/l ở nam giới và ở phụ nữ từ 100 đến 130 µmol/l là bắt đầu giai đoạn suy thận.
Suy thận độ 2: Chỉ số creatinin từ 130 đến 299 µmol/l.
Suy thận độ 3A: Creatinin từ 300 đến 499 µmol/l.
Suy thận độ 3B: Từ 500 đến 900 µmol/l.
Suy thận độ 4: Trên 900 µmol/l.
Một số chỉ số xét nghiệm bệnh thận khác
Trong thực tế, để nắm bắt mức độ suy giảm chức năng thận, người ta tiến hành đo lượng creatinin trong máu. Creatinin là một loại chất thải và nồng độ creatinin trong máu tăng lên khi chức năng thận giảm. Giá trị “eGFR (độ lọc cầu thận ước tính)” thu được bằng cách điều chỉnh chỉ số creatinin trong máu theo tuổi và giới tính là một giá trị về chức năng thận. Để nắm bắt chính xác hơn chức năng thận, tiến hành kiểm tra lượng nước tiểu có thể được lưu trữ trong một ngày.

2-Mức lọc cầu thận (GFR): GFR sẽ cho biết chức năng thận có tốt không và đang hoạt động bao nhiêu phần trăm.
Từ trước và sau khi có kết quả dương tính trong xét nghiệm vi đạm niệu đến khi chạy thận, bệnh thận có thể được chia thành năm giai đoạn sau đây. Tuy nhiên, bệnh không hẳn sẽ tiến triển theo thứ tự này, cũng có trường hợp mức độ đạm niệu (protein) là ít nhưng chức năng thận (eGFR) suy giảm nhanh và ngược lại.

3-Blood Urea Nitrogen (BUN) còn gọi là chỉ số ure máu: Chỉ số ure máu và nước tiểu để đánh giá chức năng lọc của cầu thận và sự tái hấp thu ở ống thận. Khi thận bị suy, chỉ số này sẽ tăng lên. Nồng độ urê máu bình thường ở mức: 3,6 – 6,6 mmol/l còn nồng độ urê nước tiểu là: 250 – 500 mmol/24h.

4-Protein: Khi thận bị tổn thương, chức năng lọc của thận sẽ suy giảm dẫn tới sự rò rỉ protein trong nước tiểu. Xét nghiệm đơn giản này có thể phát hiện lượng protein có chứa trong nước tiểu.

5-Microalbumin niệu: Đây là thử nghiệm nhạy cảm giúp phát hiện một lượng nhỏ protein trong nước tiểu.

6-Albumin huyết thanh: Ở người khỏe mạnh, albumin huyết thanh nằm trong khoảng 35 – 50 g/l, chiếm 50 – 60% protein toàn phần huyết thanh. Albumin giảm mạnh là biểu hiện của viêm cầu thận cấp và ở những người bị thận hư, lượng albumin giảm chỉ còn khoảng 10 – 20 g/l.

7-Hemoglobin: Xét nghiệm chỉ số hồng cầu Hemoglobin sẽ giúp bạn nhận thấy cơ thể thiếu máu hay không bởi đây là một phần của các tế bào máu đỏ mang oxy từ phổi đến các tế bào.
Ngoài ra, các triệu chứng của thận yếu được thể hiện rõ qua thói quen sinh hoạt hằng ngày mà người bệnh có thể theo dõi như:
Mệt mỏi, phù mắt cá chân, bàn chân hoặc bàn tay, khó thở, ốm yếu, tiểu ra máu, sụt cân và ăn không ngon,thở dốc, đi tiểu nhiều – đặc biệt là về đêm, tình trạng cương dương bị rối loạn, sinh lý yếu.
8-Kiểm tra protein (albumin) trong nước tiểu
Để phát hiện bệnh thận sớm, xét nghiệm vi đạm niệu sẽ có hiệu quả. Xét nghiệm này là xét nghiệm nhằm kiểm tra xem có lượng rất nhỏ của albumin trong nước tiểu không bằng phương pháp kiểm tra độ nhạy cao. Do protein là một chất cần thiết cho cơ thể, nếu không bị bệnh thận, kết quả xét nghiệm là không có protein trong nước tiểu. Tùy theo những tổn thương của các tiểu cầu có trở nên tồi tệ không mà bệnh sẽ tiến triển từ vi đạm niệu đến đạm niệu (protein niệu).
Bệnh thận được cho là sẽ khởi phát trong khoảng 10 năm sau khi bị bệnh tiểu đường nếu tình trạng kiểm soát đường huyết không tốt, tuy nhiên ở bệnh tiểu đường loại 2 sẽ không biết chính xác bệnh thận sẽ khởi phát khi nào, vì vậy những người mắc bệnh tiểu đường và cả những người duy trì kiểm soát đường huyết tốt cũng nên ít nhất mỗi năm một lần làm xét nghiệm vi đạm niệu.

IV-NGUYÊN NHÂN GÂY RA SUY THẬN.
1-Một vòng luẩn quẩn của bệnh suy thận mãn tính và bệnh tim và mạch máu
Các bệnh thận mãn tính như bệnh thận do tiểu đường có xu hướng gây ra bệnh tim và mạch máu. Ngoài ra, nếu bị bệnh tim và mạch máu, chức năng thận có xu hướng suy giảm. Mối quan hệ này được gọi là ” mối liên hệ giữa thận và tim”. Cả hai bệnh này đều do những nguyên nhân phổ biến như tăng huyết áp, viêm mãn tính, cường giao cảm, bất thường trong cơ chế điều chỉnh lượng máu. Vì vậy, trong bệnh thận do tiểu đường, việc điều trị không chỉ là chức năng thận mà còn chú ý cả tim và mạch máu.

2-Có nhiều nguyên nhân khiến bị suy thận :
Khi chức năng thận bị suy, suy thận, người bệnh sẽ bị ứ đọng các chất thải (urê, creatinine, ammoniac…), rối loạn điện giải, toan-kiềm, tăng huyết áp và thiếu máu, giảm hồng huyết cầu.
Tình trạng suy thận xẩy ra do ống lọc tiểu cầu thận là hệ thống nephron bị nghẹt không thông, do các nguyên nhân sau đây :
Do uống qúa nhiều nước, thận lọc qúa tải làm giảm tuổi thọ của thận.
Ngoài ra những người phải bị lọc thận sớm do bệnh tiểu đường hóa dạng tinh bột, do tích đọng nhiều muối, uré, creatinin, albumin và sạn thận.
Hầu hết các loại bệnh thận sẽ làm tổn thương các nephron. Sự tổn thương này có thể khiến thận không thể loại bỏ chất thải ra khỏi cơ thể. Nếu không chữa trị, thận cuối cùng có thể ngừng hoạt động hoàn toàn. Mất chức năng thận rất nghiêm trọng và có khả năng gây tử vong.
Những biến chứng có thể xảy ra bao gồm:
Giữ nước, có thể dẫn đến phù ở tay và chân, tăng huyết áp, phù phổi cấp
Tăng kali máu, có thể đe dọa tính mạng
Bệnh tim mạch
Xương yếu và tăng nguy cơ gãy xương
Thiếu máu
Giảm ham muốn tình dục hoặc bất lực
Tổn thương hệ thần kinh trung ương, có thể gây ra khó tập trung, thay đổi tính cách hoặc co giật
Giảm phản ứng miễn dịch, khiến cơ thể dễ bị nhiễm trùng hơn

3-Trường hợp đặc biệt suy thận do đường thoái hóa dạng tinh bột :

a-Sự hiểu lẩ̀m do đường huyết cao :
Riêng trường hợp phải bị lọc thận vì các ống lọc thận bị nghẹt do bệnh tiểu đường thoái hóa dạng tinh bột do di chứng của bệnh tiểu đường, mà ít ai biết nguyên nhân chính là do thuốc hạ đường và do kiêng đường, chứ không phải cơ thể dư đường. Nếu biết được nguyên nhân thực sự này thì chúng ta sẽ không bị suy thận phải lọc thận.

Chúng ta cần phải hiểu rõ nguyên nhân biến chứng của bệnh tiểu đường tại sao lại hóa dạng tinh bột.

Đa số chúng ta đều hiểu lầm khi đo đường-huyết lúc nào cũng cao, trong khi chúng ta kiêng không ăn đường và đang uống thuốc hạ đường, mới bị nghẹt ống lọc thận gây ra suy thận, khác với nguyên nhân đo đường-huyết cao do uống thêm đường vào cơ thể, vẫn nằm trong tiêu chuẩn no và tiêu chuẩn đói, thì không bị suy thận.

Chúng ta có kiến thức được người đời gọi là trí thức, nhưng về bệnh tiểu đường, chúng ta mù tịt, còn mê muội chỉ tin vào các bác sĩ, không chịu động não phân tích, đặt câu hỏi : Tại sao chúng ta không ăn ngọt, lại kiêng đường, và đã uống thuốc hạ đường, thì đường huyết phải thấp, mà tại sao đo đường huyết vẫn cao, nên phải bị lọc thận nhân tạo oan uổng vì lý do biến chứng bệnh tiểu đường hóa dạng tinh bột, không khác nào chúng ta là trí thức trở thành trí ngủ mất rồi.

Điều căn bản chúng ta phải hiểu glucose là 1 trong 4 chất cần thiết nuôi tế bào. Tế bào não phải cần đến cần 144g đường glucose, tim cần đến 36g glucose mỗi ngày cho chúng hoạt động, mà các loại đường khác không thể thay thế, ngoài ra tổng số thức ăn mà cơ thể nạp vào, trong đó chứa 80% là đường các loại, với điều kiện số lượng thức ăn và cơm, tinh bột ít nhất phải hơn 500g trong mỗi bữa ăn, mới cung cấp đủ đường nuôi các tế bào trong cơ thể.
Số đường nhập vào này tạm gọi là đường dương, vì nó cho năng lượng và nhiệt lượng, thử nước bọt pH là trung tính, sau khi ăn làm tăng nhịp tim, thử nhiệt kế đo ở đầu các ngón tay phải trong tiêu chuẩn 36-37 độ C. Đường này được insulin dẫn theo máu vào nuôi các tế bào, nếu thiếu lượng đường, gan phải xuất thêm đường dự trữ glycogen trong gan cho đủ nhu cầu nuôi tế bào, ngược lại đường này thừa trong máu thì insulin cân bằng đưa đường vào gan để dự trử thành glycogen, nếu trong gan chứa hơn 100g glycogen thì số còn lại dự trữ thành mỡ.

b-Trường hợp nào đường hóa dạng tinh bột ?
Tây y cho rằng tại bệnh tiểu đường, vì đo đường-huyết vẫn cao, trong khi chúng ta kiêng không ăn đường, ăn ít cơm là cơ thể đang thiếu đường trầm trọng tại sao đường huyết lại cao.

Điều quan trọng các nhà trí thức phải biết, tim và não lúc nào, ngày nào, cũng cần đường để hoạt động duy trì mạng sống cho chúng ta, lúc nào đường huyết cũng phải được tự động cân bằng nằm trong tiêu chuẩn đói và tiêu chuẩn no thì không bị bệnh tật.

c-Hai nguồn cung cấp đường vào máu :
Như vậy tim và não có 1 trong 2 nguồn đường phải cung cấp sau mỗi bữa ăn :

c1- Nguồn cung cấp từ ngoài vào cơ thể bằng thức ăn phải có đường, như trên đã nói tạm gọi là đường dương, vì pH dương, nhịp tim tăng, vừa cho nhiệt lượng, đo nhiệt kế ngón tay ấm nóng, vừa cho năng lượng, như vậy cơ thể phải ăn, không được bỏ bữa, cho cơ thể có đủ lượng thức ăn và cơm, như chúng ta đã biết, cơ thể tự động chuyển hóa thức ăn thành đường, nếu ăn thừa đường, thì đường dư thừa trở thành đường dự trữ glycogen và mỡ, nhiều quá gây béo phì, sẽ thừa cholesterol và triglycerid gây bệnh xơ vữa động mạch, áp huyết cao, tắc nghẽn tuần hoàn máu gây tai biến đột qụy.
Nếu chúng ta có tập luyện thể dục thể thao, hay ăn thức ăn có chứa insulin thiên nhiên để cân bằng đường chuyển hóa thành năng lượng thì đường-huyết không dư thừa, vẫn nằm trong tiêu chuẩn đói-no thì không bí bệnh tiểu đường.
Thí dụ đo đường huyết sau khi ăn đo được 170mg/dL nằm trong tiêu chuẩn no 140-180mg/dl thì không bị bệnh tiểu đường, không bị suy thận, không bị lọc thận.

c2-Nguồn đường bị rút từ trong cơ thể để cung cấp đường cho tim não hoạt động,
Đường này chúng ta tạm gọi là đường âm, vì thử pH acid, chỉ cho năng lượng giúp não và tim tuần hoàn, nhưng nhịp tim càng hạ thấp, người lạnh, nhiệt độ đo trên ngón tay thấp dưới tiêu chuẩn, máu tuần hoàn cũng bị tắc nghẽn do máu đóng cục cũng gây ra bệnh xơ vữa động mạch vành. Khi chúng ta kiêng đường, ăn ít cơm, vừa uống thuốc hạ đường, mà tại sao đo đường-huyết vẫn cao, chúng ta có chịu suy nghĩ tại sao không ?
Tai hại hơn nữa là những thuốc đông y hay dược thảo chức năng quảng cáo bảo đảm uống vào đường sẽ xuống hết bệnh tiểu đường, trong trường hợp đường âm, đo đường-huyết vẫn cao, nhưng sau khi uống vào tụt đường huyết, qủa thật đúng 3 ngày hết bệnh tiểu đường vì cơ thể hết đường thì tim ngừng đập, nên đã có nhiều người chết oan vì không hiểu tim và não cần đường mỗi ngày, nên không bao giờ gọi là chữa khỏi bệnh tiểu đường không khác nào chúng ta nói chữa khỏi bệnh ăn cơm.

Như trên đã nói đường dự trữ trong cơ thể bị rút ra chuyển thành năng lượng cho tim não hoạt động chúng ta tạm gọi là đường âm, là đường mà cơ thể bị mất dần, chứ không phải đường dương được bổ sung vào cơ thể. Đường âm là glycogen và mỡ có trong gan, trong cơ bắp. đường glucose có trong xương, trong tế bào.
Khi cơ thể không nạp đủ đường dương từ thức ăn, không có đường, chúng sẽ tự điều chỉnh rút đường và mỡ trong gan, trong thịt, trong tế bào cung cấp cho tim hoạt động, vì lý do đó, đo đường-huyết vẫn cao, chúng ta hiểu lầm do đường huyết cao như 160mg/dL trong khi chúng ta uống thuốc hạ đường và kiêng không ăn đường, tây y đổ thừa do biến chứng của bệnh tiểu đường, trong khi cơ thể rút hết đường trong cơ thể cho tim, não hoạt động thì cơ thể càng gầy ốm suy nhược, rối loạn áp huyết do đường trong cơ thể cạn dần, do nhu cầu cần cung cấp cho tim cho não, mà chúng ta lại phải tiêm insulin để ăn cắp thêm đường trong nội tạng, nên cơ thể phải rút đường trong mỡ ra hết để chuyển hóa lại thành đường, khi mỡ lipid là loại lipid monoacyl bên trong có chứa các hạt tinh bột có các acid béo tự do giống như các loại ngũ cốc khác đều chứa hàm lượng amylose và hàm lượng lipid trong lúa mì, lúa mạch, ngô và tinh bột gạo, cho nên khi đường hóa dạng tinh bột trong bệnh tiểu đường tây y gọi là amylase, có thể gọi là đường bị thủy phân, công thức đường là C6H12O6 khi thủy phân mất 1 đơn vị nước H2O trở thành công thức tinh bột C6H10O5.
Chính tinh bột này làm nghẹt các ống lọc thận, tùy theo số lượng ống lọc thận bị nghẹt càng nhiều thì độ suy thận càng tăng, từ suy thận độ 1, đến độ 2, 3, và nặng nhất là độ 4, tuy nhiên chỉ có các ống lọc nephron bị nghẹt không lọc, nhưng thận vẫn còn chức năng của tuyến thượng thận. Chỉ cần uống nhiều nước mía và uống kim tiền thảo để thông căn vôi và bột đọng trong những ống lọc thận với bài Kéo Ép Gối hay bài Cúi Lạy Lọc Thaận để co bóp thận đẩy tinh bột theo nước tiểu ra ngoài.
Theo dõi lượng nước tiểu và các chất thải khi nước tiểu đục là tinh bột trong các ống lọc thận đã được thông. Cũng cần để ý khi những dấu hiệu bệnh suy thận này dần dần biến mất là có kết quả :
Thay đổi màu da, phân bị bạc màu, đau khớp, mệt mỏi; yếu người, khó thở, sụt cân, lưỡi phì đại, nhịp tim bất thường, chân tay sưng.

c3-Tây y phân loại nguyên nhân đường thoái hóa dạng tinh bột
Bệnh thoái hóa tinh bột (hay còn bệnh amyloidosis) là căn bệnh hiếm gặp, ảnh hưởng đến nhiều bộ phận cơ thể và dẫn đến suy các cơ quan và tử vong.
Có rất nhiều loại bệnh thoái hóa dạng tinh bột amyloidosis.
Amyloidosis AL hệ thống: đây là loại phổ biến nhất của amyloidosis, còn được gọi là amyloidosis nguyên phát. Các kháng thể bất thường do tủy xương sản sinh gây ra bệnh này. Bệnh có thể ảnh hưởng đến gan, thận, tim, da và thần kinh;
Amyloidosis AA hệ thống:dạng này còn có tên gọi là amyloidosis thứ phát. Bệnh chủ yếu ảnh hưởng thận và thường xảy ra cùng với các bệnh nhiễm trùng hoặc viêm mạn tính khác;
Amyloidosis di truyền: bệnh thường ảnh hưởng đến gan, thần kinh, tim và thận. Dạng này phổ biến ở người Mỹ gốc Phi hơn so với người da trắng.
Amyloidosis do lọc máu: bệnh này xảy ra khi các amyloid (protein bất thường) có ở các khớp và gân, dẫn đến cứng và tràn dịch trong khớp. Loại này thường ảnh hưởng đến những người chạy thận nhân tạo dài hạn. Như vậy càng chạy thận nhân tạo thì thận thật của chúng ta càng bị nghẹt toàn bộ 100%.

Amyloid là một protein bất thường do tủy xương sản xuất và có thể di chuyển đến các bộ phận khác, gây ra bệnh thoái hóa tinh bột có thể làm nghẹt các mao mạch và xoang phổi.

d-Những dấu hiệu và triệu chứng của bệnh thoái hóa tinh bột có thể phòng
ngừa:
Thay đổi màu da, phân bị bạc màu, đau khớp, mệt mỏi; yếu người, khó thở, sụt cân, lưỡi phì đại, nhịp tim bất thường.
Khi chức năng thận của họ suy giảm nghiêm trọng, chỉ còn khoảng 10-15%. Triệu chứng sớm nhất có thể thấy đối với người bệnh thận là lượng nước tiểu thải ra giảm đi, tiểu ít, mệt mỏi nhiều, biếng ăn nhất là những lúc mắc các chứng bệnh thông thường như cảm cúm, đau đầu, tiêu chảy,…

Khi tây y xét nghiệm định mức độ suy thận, căn cứ vào :
Lượng nước tiểu càng ngày càng ít, lượng chất cặn creatinin càng nhiều, acid uric cao, uré cao, albumin cao, calcium cao, lượng muối cao...mà không biết nguyên nhân tại sao để biết cách chữa phục hồi chức năng thận.
Còn chúng ta cũng hiểu sai về đường-huyết cao do đường cung cấp từ bện ngoài vào cơ thể thì không phải bị lọc thận, còn đường rút từ trong cơ thể ra từ gan, cơ bắp, trong tế bào... thì hậu qủa mà tây y gọi là biến chứng của tiểu đường là sai, nên không thể căn cứ vào đo đường huyết không cao mấy so với tiêu chuẩn mới, khi no từ 140-180mg/dl, chỉ có 160mg/dL do uống thuốc hạ đường, kiêng đường trong thời gian 5-10 năm bị ung thư gan giai đoạn cuối bị chết bất đắc kỳ tử khi làm việc nặng bí tụt đường huyết, nên ai cũng đổ thừa ung thư gan do bệnh tiểu đường, khiến mọi người càng lo sợ tin vào tây y hù dọa bệnh tiểu đường do ăn đường.

V-CÁCH LỌC THẬN CỦA TÂY Y:

Khi mà hai quả thận hoàn toàn mất tác dụng thì chỉ còn hai cách: một là xin một quả thận của người khác để ghép vào mình, hai là cứ tuần vài lần đi đến trung tâm chuyên môn để lọc máu, mục đích là để thải những chất độc và nước dư thừa ra ngoài.

Việt Nam có gần 100.000 người suy thận ở giai đoạn cuối cần điều trị. Việc thay, ghép thận chi phí rất cao, nên bệnh nhân chủ yếu điều trị bằng kỹ thuật lọc máu, tức là chạy thận nhân tạo.

Có hai kiểu lọc máu. Nếu hút máu từ cơ thể cho chạy ra một cái máy để lọc hết chất độc, rồi lại truyền máu trở lại thì gọi là lọc máu bằng thận nhân tạo (hemodialysis). Nếu dùng một dung dịch đường glucose và muối bơm vào trong bụng để hút các chất độc từ cơ thể qua màng bụng, rồi rút ra ngoài, thì gọi là lọc máu qua màng bụng (peritoneal dialysis).

1-Mục đích và thời gian lọc :
Có điều lạ, thay vì tây y phải phục hồi lại chức năng thận cho chúng hoạt động trở lại như cách trên, thì lại xem là thận đã chết không chữa được, phải thay thận giả̉ là lọc thận nhân tạo suốt đời.
Theo lý thuyết, chạy thận là phương pháp giúp cho người bệnh đào thải được lượng nước dư thừa, các chất độc tố, muối và một số những chất thải tích tụ trong cơ thể. Đồng thời quá trình chạy thận cũng giúp giữ lại một số những dưỡng chất trong máu ở mức độ an toàn cho cơ thể của người bệnh như: natri, kali, bicarbonate.
Bên cạnh đó thì chạy thận nhân tạo còn có thể giúp cho người bệnh cân bằng được huyết áp trong cơ thể. Chạy thận nhân tạo giống như thay thế hoàn toàn chức năng của thận khi thận không còn khả năng hoạt động.
Điều mà người bệnh hết sức chú ý việc thực hiện chạy thận chỉ giúp cho người bệnh duy trì sự sống chứ đây không phải là phương pháp điều trị bệnh. Tuy nhiên nếu người bệnh được thực hiện ghép thận thì khả năng sống sót và không phải thực hiện chạy thận là rất cao.

Trong quá trình chạy thận nhân tạo, máu sẽ được lưu thông ở bên ngoài cơ thể. Nó sẽ được đi qua một thiết bị có bộ lọc đặc biệt.
Máu được chảy ra từ cơ thể của bệnh nhân qua 1 ống dẻo được gọi là ống thông. Ống được đưa vào tĩnh mạch. Giống như thận, các bộ lọc của thiết bị này sẽ loại bỏ các chất thải ra khỏi máu. Máu lọc sẽ được trở lại cơ thể bệnh nhân qua một ống thông khác. Hệ thống này hoạt động giống như một quả thận nhân tạo.
Những người bệnh chạy thận nhân tạo thường được thực hiện 3 lần 1 tuần, 1 lần chạy trong 3 – 4 giờ, tùy thuốc vào thận hoạt động như thế nào và khối chất lỏng họ thu được giữa các lần điều trị.

Tuy nhiên một bộ máy lọc thận nhân tạo chưa hoàn hảo nên không thể giống chức năng của thận thật là điều hòa lượng nước và muối khoáng vừa đủ để giữ ổn định áp huyết cho tim mạch, và ổn định đường huyết, nên sau khi lọc thận nhân tạo, áp huyết đường huyết và tim mạch vẫn không được ổn định.
Ngoài ra trong ống thận nhân tạo không có cấu trúc tự nhiên như cơ thể con người có nhiều loại hormon đ̉ổ thu hồi lại tế bào máu, và cách chất cần thiết như giữ lại creatin, thải bỏ creatinin... do đó lọc thận nhân tạo đã làm bệnh nhân mất máu, mất tế bào máu không giữ lại được, và thực tế thận trong con người lại là bãi rác chứa chất thải của máu xấu như creatinin vẫn chạy vào thận mà không có lối thoát ra, nên sưng phù thận và vẫn bị sưng chân, trong khi tuyến thượng thận vẫn còn vì không vị ảnh hưởng ống lọc. Đó là lý do người chạy thận nhân tạo không thể sống lâu,

2-Điều chỉnh nước siêu tinh khiết
Trong hệ thống chạy thận nhân tạo, nước là một trong hai nhân tố quan trọng nhất. Trung bình một bệnh nhân chạy thận nhân tạo cần tới 22.000 lít nước siêu tinh khiết mỗi năm. Một tuần chạy thận 3 lần, trung bình mỗi lần cần khoảng 136 lít nước siêu tinh khiết. So với thận thật trong 24 giờ đối với người khỏe mạnh, cơ thể có đủ 6 lít máu, thì 6 lít máu này là dịch lọc phải qua thận mỗi giờ 6 lít, trong 24 giở thận lọc 144 lít máu qua thận để chắt lọc được khoảng 1.2-2,4 lít nược tiểu, mới thật là siêu lọc mà máy chạy thận chưa đạt được yêu cầu này, nên đời sống của người lọc thận nhân tạo ngắn hơn người bình thường.
Do thận hư không còn khả năng lọc các tạp chất, ion và vi khuẩn xâm nhập vào máu từ nước truyền nên rất dễ có những rủi ro bất ngờ, kể cả tử vong. Các nguyên tố vô cơ như nhôm, thuỷ ngân, đồng, chì kẽm và các độc tố hữu cơ như nitrat, nitrit, amoniac, chloramine, vi khuẩn, tảo, nấm đều gây tai biến.
Do đó, nước dùng cho thận nhân tạo cần phải được xử lý nghiêm ngặt: Đầu tiên là lọc thô, điều chỉnh nhiệt độ và pH. Sau đó là làm mềm, khử khoáng bằng trao đổi ion. Tiếp theo, nước được đưa qua bồn lọc carbon hoạt tính để hấp thụ các tạp chất hữu cơ. Công đoạn tinh lọc bắt đầu bằng màng thẩm thấu ngược, chỉ cho nước đi qua và giữ lại tạp chất còn sót, kể cả các ion/ chất điện phân. Để chắc chắn hơn, có thể cho nước qua bộ trao đổi ion, khử toàn bộ các anion và cation.

3-Dịch thẩm tán siêu tinh khiết
Nước siêu tinh khiết có thể vẫn chưa đủ. Sau khi pha với dịch thẩm tán, dung dịch này còn phải qua một màng lọc nữa trong máy chạy thận. Đây là lớp bảo vệ cuối cùng ngăn chặn tạp chất, vi khuẩn có thể xâm nhập hệ thống sau quá trình tinh lọc.
Theo dõi bằng máy tính: Trong quá trình chạy thận, nước và dịch thẩm tán được giám sát bằng các thiết bị chuyên dùng và được lập trình. Các thông số chất lượng nước, nhiệt độ, áp suất, lưu lượng, tỷ lệ nước và dịch pha đều cần tuyệt đối chính xác.
Do yêu cầu nghiêm ngặt về chất lượng và độ ổn định, chỉ những hệ thống xử lý được kiểm định đạt chuẩn AAMI (Association for the Advancement of Medical Instrumentation) mới được sử dụng. Ngoài ra, các hãng sản xuất còn phải mua bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm với chi phí không nhỏ.

a-Tiêu chuẩn AAMI

AAMI standard
TT
Contaminant
Maximum (mg/L)
1
Calcium
2
2
Magnesium
4
3
Potassium
8
4
Sodium
70
5
Antimony
0.006
6
Arsenic
0.005
7
Barium
0.1
8
Beryllium
0.0004
9
Cadmium
0.001
10
Chromium
0.014
11
Lead
0.005
12
Mercury
0.0002
13
Selenium
0.09
14
Silver
0.005
15
Aluminium
0.01
16
Chloramines
0.1
17
Chlorine
0.5
18
Copper 0.1
0.1
19
Fluoride
0.2
20
Nitrate (as Nitrogen)
2
21
Sulphate
100
22
Tin
0.1
23
Zinc
0.1
24
Bacteria
100 cfu/ml (Action level = 50 cfu/ml)
25
Endotoxin
0.25EU/ml (Action level = 0.125EU/ml)

Có 25 chỉ số lý hóa và vi sinh cần kiểm soát trong nước RO và tùy theo từng loại chỉ số mà tần suất giám sát khác nhau, ví dụ như nước cứng test hằng ngày, có chỉ số Endotoxin test theo tháng hoặc đột xuất và có chỉ số kiểm tra mỗi ba tháng

b-Tiêu chuẩn dịch lọc của VN :
So sánh với dịch lọc theo tiêu chuẩn quốc tế AAMI thì dịch lọc thận ở VN như dưới đây không đủ tiêu chuẩn, lại dùng nhiều muối, kết qủa sau khi lọc, áp huyết và đường huyết không ổn định.

Dịch lọc thận nhân tạo đang sử dụng tại VN
Thành phần: Cho 1000 ml thành phẩm:
Natri clorid……………………………………….30,5 g
Natri bicarbonat………………………………..66,0 g
Nước tinh khiết vđ………………………….1000 ml
Dạng bào chế: Dung dịch dùng cho thẩm phân máu.
Qui cách đóng gói: Thùng 1 can 10 lít.
Chỉ định:
– Suy thận cấp.
– Suy thận mãn.
– Tình trạng cơ thể bị thừa nước.
– Tình trạng cơ thể bị nhiễm độc.
– Dùng để điều chỉnh cân bằng kiềm – toan & cân bằng điện giải.
Chống chỉ định:
– Bệnh lý đông máu trầm trọng.
– Các bệnh nhân có tuần hoàn máu và / hoặc huyết áp không ổn định, cần áp dụng phương pháp thẩm phân ngoài cơ thể khác.
Cách dùng – liều dùng:
– Khi dùng pha loãng theo tỷ lệ:
Dung dịch Kydheamo – 3A (Acid)……………………………1 thể tích .
Nước tinh khiết ………………………………………………….34 thể tích.
Dung dịch Kydheamo – 2B (Bicarbonat)…………………..1,83 thể tích.
– Dùng thẩm phân acetat ngoài cơ thể.
– Thời gian thẩm phân tùy thuộc thể trạng bệnh nhân.
Thận trọng:
– Thận trọng với những bệnh nhân có bệnh tim mạch không ổn định hoặc đang xuất huyết.
– Chỉ sử dụng khi dung dịch trong suốt. Không được dùng nếu dung dịch có chứa các tiểu phân chất rắn.
– Không sử dụng một mình dung dịch Kydheamo – 2B để thẩm phân máu. Chỉ pha loãng ngay trước khi dùng.
Chú ý: Không được tiêm hoặc tiêm truyền tĩnh mạch.
Hạn dùng: 36 tháng kể từ ngày sản xuất.
Bảo quản: Kín, tránh ánh sáng.

VI-CÁCH PHÒNG NGỪA SUY THUẬN ĐỂ KHỎI BỊ LỌC THẬN

Phải đo áp huyết 2 tay và đường huyết trước và sau khi ăn 30 phút, so sánh với tiêu chuẩn đói-no. Nếu cao hơn phải tập bài chuyển hóa thức ăn và đường là bài Kéo Ép Gối chậm 30 phút. Tìm tên bài này trên youtube tập theo.
Nếu thiếu đường, phải uống thêm nhiều nước mía vừa bổ sung đường vừa bổ sung nước, để khi tập bài Kéo Ép Gối chậm và bài Cúi Lạy Thông Lọc Thận, thận sẽ loại bỏ nước lấy lại các khoáng chất cần thiết và B12 trong nước mía. Trường hợp nước tiểu ra ít, uống thêm Kim Tiền Thảo giúp bàng quang đi tiểu nhiều tránh trường hợp ứ nước tiểu trào ngược về thận.
Cần thử pH phải trung tính 7-8, nếu thấp dưới 6 là đường âm, nhịp tim càng thấp, người càng lạnh khi nhịp tim thấp dượi 60 và pH 4-5 thì tế bào trở thành ung thư.

1-Cách phục hồi chức năng thận theo KCYĐ :

Cách phục hồi chức năng thận, loại bỏ creatinin cho người đang bị lọc thận thoát khỏi lọc thận :

a-Cách giảm creatinin :
Creatine là một hợp chất cung cấp năng lượng cho cơ bắp.Creatine là một dạng chất tự nhiên trong cơ thể, được cấu tạo bởi 3 loại acid amin: Arginine, glycine và methionine, giúp cung cấp năng lượng và tăng cường sự dẻo dai trong quá trình luyện tập, đặc biệt là các động tác nhanh và mạnh.
Creatine được sản xuất trong gan, tụy, thận, và được vận chuyển đến các cơ bắp của cơ thể thông qua các mạch máu. Một khi đến được các cơ bắp, nó được chuyển đổi thành chất chuyển hóa năng lượng cao.
Chúng ta hoạt động được mạnh mẽ là nhờ một chất tên là ATP (ATP là một hợp chất hữu cơ được tìm thấy ở cơ, phá vỡ qua quá trình xúc tác, tạo năng lượng cho cơ co giãn). lượng ATP mỗi lần chỉ đủ cung cấp trong khoảng 10 giây, do vậy để liên tục có ATP thì ta cần tới khá nhiều thứ trong đó có creatine. Creatine sẽ bổ sung phân từ phốt phát ADP và làm xuất hiện thêm ATP.
Điều đó làm tăng khả năng, hiệu quả hoạt động cho cơ bắp. Nghiên cứu cho thấy creatine giúp tăng cường độ luyện tập và phục hồi. Nó có thể vượt qua dạ dày và vào trong máu nguyên vẹn. Trong khi đi vào tế bào cơ, nó được chuyển hóa thành Creatine Phosphate (CP).
Creatine ngày càng phổ biến, nên những nghiên cứu về tác dụng lên sức khỏe của creatine ngày càng nhiều. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc nạp creatine là cần thiết cho sức khỏe.
1.Creatine và sự làm dày cơ bắp căng lên do tích nước. góp phần khuyến khích các tế bào tăng cường sản xuất các cấu trúc protein và enzyme quan trọng, cũng góp phần gia tăng tổng khối lượng cơ nạc.
Ngoài ra, đối với sức khỏe Creatine còn làm giảm bệnh mất trí nhớ (Alzheimer): Sử dụng Creatine sẽ giúp nồng độ homocyteine, giúp giảm bệnh liên quan về tâm thần như bệnh mất trí nhớ. Và Creatine còn giúp chống oxy hóa: Sử dụng Creatine sẽ giúp chống lại sự oxy hóa tương tụ như Glutathinone – chất chống lại các gốc tự do trong cơ thể cực mạnh.

b-Hiểu vì sao mức creatinine tăng cao.
Có nhiều lý do khác nhau dẫn tới hàm lượng creatinin tăng cao, mức độ ảnh hưởng của các nguyên nhân này cũng khác nhau.
Suy thận hay tổn thương thận: Nếu thận bị tổn thương chúng không thể lọc creatinine ra khỏi cơ thể
Hầu hết các loại bệnh thận sẽ làm tổn thương các nephron (một đơn vị cấu trúc của thận). Sự tổn thương này có thể khiến thận không thể loại bỏ chất thải ra khỏi cơ thể. Nếu không chữa trị, thận cuối cùng có thể ngừng hoạt động hoàn toàn. Mất chức năng thận rất nghiêm trọng và có khả năng gây tử vong.
Hoại tử cơ bắp: Nếu cơ bắp bị hoại tử, tế bào bị phân rã từ các mô cơ này đi vào máu và gây tổn thương thận.
Ăn nhiều thịt: Chế độ ăn có nhiều thịt nấu chín có thể làm tăng lượng creatinine trong cơ thể.
Bệnh nhược giáp: Suy giảm chức năng tuyến giáp cũng ảnh hưởng tới chức năng thận. Bệnh nhược giáp có thể làm giảm khả năng lọc chất thải của thận ra khỏi cơ thể.

Các nguyên nhân khác có khả năng làm tăng creatinine bao gồm đột quỵ, mất nước, mất máu nhiều dẫn đến sốc, bệnh gút, luyện tập với cường độ quá cao, chấn thương cơ, bệnh lý về cơ và bị phỏng.
Trong cơ bắp có sẵn chất bổ creatin nuôi cơ bắp, khi cơ bắp hoạt động ra mồ hôi thì thải ra chất cặn của creatin thành creatinin trong máu, theo máu xuống thận để lọc thải ra theo nước tiểu. Khi thận bị nghẹt do tinh bột, creatinin không vào thận được, còn chứa lại trong máu với số lượng cao, thì tây y biết ngay là thận suy.
Để tránh tăng creatinin trong máu cao, không được tập thể dục thể thao lâu và các loại tập mạnh xuất mồ hôi, mà phải tập nhẹ, chậm, thừi gian ngắn 10-15 phút thì nghỉ.

2-Cách bổ sung bằng thảo dược, ăn uống theo KCYĐ :

a-Uống trà thảo mộc hay trà xanh.

Người ta cho rằng một số loại trà thảo mộc giúp làm giảm lượng creatinin trong máu. Không có nhiều nghiên cứu chứng nhận về nhận định này, song lý thuyết đó cũng không bị bác bỏ.
Uống một cốc khoảng 250 ml trà thảo mộc, mỗi ngày uống hai lần.
Các loại trà thảo mộc đáng để bạn thử là lá cây tầm ma và rễ cây bồ công anh.
Có ý kiến cho rằng các loại trà này kích thích hoạt động của thận, từ đó làm tăng lượng nước tiểu, cũng như lọc được nhiều creatinin hơn ra khỏi cơ thể.

b-Cân nhắc dùng viên bổ sung chiết xuất từ lá tầm ma.
Lá tầm ma giúp tăng bài tiết thận và do đó có thể loại trừ lượng creatinin dư thừa.Cây tầm ma chứa chất histamine và flavonoid, hai chất này giúp tăng lượng máu đi tới thận, vì vậy tăng khả năng lọc nước tiểu của thận.

Chiết xuất lá tầm ma được bào chế dưới dạng viên thực phẩm chức năng, hoặc sản xuất thành trà uống.

c-Kiểm soát lượng chất lỏng đưa vào cơ thể. Theo nguyên tắc chung, nên uống từ sáu tới tám cốc nước (250 ml) mỗi ngày. Cơ thể thiếu nước thực sự làm tăng mức creatinin, do đó điều quan trọng phải giữ cơ thể đủ nước khi vận động.
Khi cơ thể thiếu nước bạn sẽ đi tiểu ít hơn, mà creatinin bài tiết ra bên ngoài thông qua nước tiểu, vì vậy tiểu ít hơn đồng nghĩa với việc cơ thể khó bài tiết độc tố này hơn.
Ngược lại, tiêu thụ quá nhiều chất lỏng cũng có tác động tiêu cực với chức năng thận. Vì lượng chất lỏng quá nhiều có thể làm tăng huyết áp, mà huyết áp cao lại tăng áp lực đè lên thận.

d-Hạn chế cường độ hoạt động.
Cơ thể chuyển hóa thức ăn thành năng lượng nhanh hơn khi vận động với cường độ cao. Kết quả là lượng creatinin sinh ra nhiều hơn và làm tăng lượng độc tố này trong máu.
Phục hồi chức năng lọc thận cần uống nhiều nược mía và tập Bài Cúi Lạy Lọc Thận 15 phút/lần, ngày 3 lần.

e-Ngủ đủ giấc.
Khi ngủ các chức năng của cơ thể giảm cường độ làm việc, bao gồm cả quá trình trao đổi chất. Khi trao đổi chất giảm, sự chuyển hóa creatin thành creatinin cũng diễn ra chậm hơn, tạo điều kiện để creatinin tích lũy trong máu trước đó được lọc ra trước khi cơ thể sản sinh lượng độc tố mới.
Nên ngủ từ sáu tới chín tiếng mỗi ngày, nhưng lý tưởng nhất là từ bảy tới tám tiếng.
Thiếu ngủ làm tăng áp lực lên toàn bộ cơ thể và buộc tất cả các cơ quan làm việc nhiều hơn để thực hiện các nhiệm vụ hằng ngày. Đó là nguyên nhân khiến thận làm việc quá sức, từ đó giảm khả năng lọc creatinin.

f-Uống thuốc chuyên trị mức creatinin cao.
Thuốc ketosteril thường được dùng để hạ thấp hàm lượng creatinin trong máu. Liều dùng phổ biến của thuốc ketosteril là 4 tới 8 viên, uống làm ba lần mỗi ngày vào các bữa ăn.
Các loại thuốc giảm creatinin khác bao gồm:
Dùng thuốc bổ sung acid alpha lipoic 300 mg mỗi ngày (chất chống oxy hóa) để cung cấp năng lượng cho thận và trung hòa các độc tố, mà creatinin là một trong số đó.
Chitosan là loại thực phẩm chức năng giúp kiểm soát khối lượng cơ thể và cũng có tác dụng giảm creatinin trong máu, dùng từ 1000 tới 4000 mg một ngày để thấy được công dụng của chitosan.

g-Hạn chế tiêu thụ natri.
Khi dư natri cơ thể sẽ lưu lại một lượng chất lỏng có hại và dẫn tới cao huyết áp. Cả hai yếu tố này đều làm tăng lượng creatinin.
Duy trì chế độ ăn ít natri. Tránh xa thực phẩm và thức uống mặn
Lượng natri trung bình tiêu thụ mỗi ngày vào khoảng 2 tới 3 gam, thậm chí thấp hơn.

h-Chú ý tới lượng protein.
Tránh ăn các thực phẩm giàu protein tối đa có thể. Thịt đỏ và sản phẩm làm từ sữa đặc biệt có hại đôi với bệnh suy thận
Khi cần cung cấp protein bạn nên tận dụng các thực phẩm có nguồn gốc thực vật, như hạt và các loại đậu.

i-Tránh ăn thực phẩm giàu phốt pho.
Nên tránh ăn các thực phẩm như:
Bí ngô và bí, phô mai, cá, sò, các loại hạt, thịt heo, sản phẩm sữa ít béo, đậu nành để tránh cho thận phải làm việc cực nhọc hơn khi xử lý thực phẩm giàu phốt pho, đặc biệt khi bạn đang gặp tình trạng creatinin cao.

j-Hạn chế tiêu thụ kali.
Nên tránh ăn thực phẩm có nhiều kali vì kali sẽ tích lũy trong cơ thể nếu thận không thể lọc nó đúng với chức năng bình thường. Thực phẩm giàu kali bao gồm:
Hoa quả sấy khô, chuối, rau chân vịt, khoai tây, đậu, đậu Hà Lan.

k-Tránh xa thực phẩm chức năng bổ sung creatin.
Vì creatinin là sản phẩm phế thải của creatin nên uống thuốc bổ sung creatin sẽ làm tích lũy creatinin trong máu.

l-Ăn nhiều chất xơ
Một nghiên cứu cho thấy giảm đáng kể nồng độ creatinin ở những người mắc bệnh thận mãn tính làm tăng lượng chất xơ.
Chất xơ có thể được tìm thấy trong nhiều loại thực phẩm, bao gồm:
Trái cây, rau, các loại ngũ cốc, cây họ đậu.

m-Bổ sung chitosan
Chitosan là một chất bổ sung chế độ ăn uống, được sử dụng bởi những người hy vọng giảm cân hoặc giảm cholesterol. Có một số nghiên cứu chỉ ra rằng chitosan cũng có thể có hiệu quả trong việc giảm mức độ creatinin ở những người bị suy thận.
Tìm chitosan trên Amazon.com.

3-Các loại thảo mộc khác :
cây tầm ma (lá tầm ma), hoa chamomile, Quế, nhân sâm, rễ bồ công anh,

Theo KCYĐ :
Theo dõi sự tiến triển, triệu chứng và cách kiểm soát kết qủa bằng máy đo áp huyết 2 tay và đường huyết cùng lúc, thử pH nước bọt, theo d̃i lượng nước tiểu, đo nhiệt kế trước và sau khi đi lọc thận về.
Còn nếu không đi lọc thận mà tự phục hồi chức năng lọc của thận cũng áp dụng cách theo dõi kiểm soát như trên.

VII-15 KOẠI THỰC PHẨM TỐT CHO THẬN :

1. Ớt chuông đỏ
Ớt chuông đỏ có nồng độ kali thấp. Ngoài ra, ớt chuông đỏ còn chứa vitamin A, C, B6, acid folic và chất xơ.
Ớt chuông cũng chứa các chất chống oxy hóa như lycopene, giúp bảo vệ chống lại một số loại ung thư. Có thể trộn ớt chuông đỏ vào cá ngừ hay salad gà hoặc ăn sống.

2. Bắp cải
Bắp cải có chứa các hợp chất hóa học có thể phá vỡ các gốc tự do trong cơ thể, giúp phòng chống ung thư và hỗ trợ sức khỏe tim mạch.
Bắp cải là thực phẩm rẻ tiền, và là một món ăn tuyệt vời cho bữa ăn, bởi bắp cải giàu vitamin K và C, chất xơ, vitamin B6 và acid folic, nhưng lại có lượng kali thấp.
Nếu bạn đang theo chế độ ăn uống lọc máu, có thể cho thêm bắp cải vào món xà lách trộn hoặc ăn kèm cùng các món cá.

3. Súp lơ
Một siêu phẩm thân thiện với thận là súp lơ. Loại rau họ cải này mang lại nhiều vitamin C, cùng với folate và chất xơ. Ngoài ra nó có chứa các hợp chất giúp gan trung hòa các chất độc hại. Súp lơ có thể ăn sống hoặc chần lên rồi cho vào món salad. Súp lơ hấp hoặc luộc cũng là một món ăn tuyệt vời.

4. Tỏi
Tỏi giúp giảm viêm và giảm cholesterol máu. Trong tỏi cũng chứa chất chống oxy hóa và chống đông máu.
Nếu bạn đang theo chế độ ăn uống lọc máu, sử dụng bột tỏi thay vì muối tỏi để thêm hương vị cho bữa ăn mà không cần bổ sung thêm natri.

5. Hành tây
Một thực phẩm làm gia vị phổ biến là hành tây. Hành tây có đầy đủ các chất flavonoid, đặc biệt là quercetin. Flavonoid là các chất tự nhiên ngăn ngừa sự lắng đọng của chất béo trong mạch máu. Quercetin là một chất chống oxy hóa mạnh mẽ giúp giảm nguy cơ bệnh tim, bảo vệ chống lại nhiều dạng ung thư và cũng có đặc tính chống viêm. Hành tây cũng chứa chrom, một loại khoáng chất giúp cơ thể chuyển hóa chất béo, protein và carbohydrate. Có thể ăn sống hoặc nấu chín hành tây khi chế biến thành các món ăn khác nhau.

6. Táo
Ăn một quả táo mỗi ngày thực sự tốt cho sức khỏe. Chất xơ và chống viêm có trong táo làm giảm cholesterol, ngăn ngừa táo bón, bảo vệ cơ thể chống lại bệnh tim và giảm nguy cơ ung thư.
Ngoài ăn táo, cũng có thể nấu chín táo để tạo ra các món tráng miệng hoàn hảo. Có thể uống nước táo hoặc rượu táo cũng tốt cho sức khỏe.

7. Quả nam việt quất
Nam việt quất là loại quả tuyệt vời trong việc ngăn ngừa nhiễm trùng đường tiết niệu, vì loại quả này làm cho nước tiểu có tính acid hơn và giúp ngăn chặn vi khuẩn bám vào bên trong bàng quang. Ngoài ra, đã có nghiên cứu chứng minh quả nam việt quất có thể bảo vệ cơ thể chống lại ung thư và bệnh tim. Hãy thưởng thức nước ép nam việt quất hàng ngày để bổ sung vitamin và dưỡng chất cho cơ thể.

8. Quả việt quất
Quả việt quất có các hợp chất chống oxy hóa gọi là anthocyanidins.
Quả việt quất được đánh giá cao về dinh dưỡng, nhờ có các hợp chất tự nhiên giúp giảm viêm và có nhiều vitamin C và chất xơ. Có thể làm sinh tố trái cây việt quất, hoặc có thể ăn tráng mệng sau bữa ăn.

9. Quả mâm xôi
Quả mâm xôi chứa một hợp chất gọi là acid ellagic, giúp trung hòa các gốc tự do. Quả mâm xôi có chứa chất xơ, vitamin C, mangan và có nhiều folate.
Quả mâm xôi có đặc tính làm ngừng tăng trưởng tế bào ung thư và ngăn chặn sự hình thành các khối u. Có thể thêm quả mâm xôi tươi vào món tráng miệng, hoặc thêm vào sinh tố trái cây.

10. Dâu tây
Dâu tây rất giàu chất chống oxy hóa, chứa rất nhiều vitamin C, mangan và chất xơ. Dâu tây có đặc tính chống viêm, chống ung thư và cũng giúp giữ cho trái tim khỏe mạnh.

11. Anh đào
Anh đào chứa nhiều chất chống oxy hóa cùng hợp chất phytochemical giúp bảo vệ tim . Ăn anh đào hàng ngày có thể giúp cơ thể chống viêm. Anh đào tươi hoặc bánh anh đào là những món tráng miệng ngon.

12. Nho đỏ
Nho đỏ chứa nhiều flavonoid tốt cho trái tim, vì flavonoid ngăn chặn quá trình oxy hóa và giảm nguy cơ đông máu. Resveratrol là một chất flavonoid có trong nho có thể thúc đẩy cơ thể sản xuất oxyde nitric, có tác dụng giãn mạch máu và làm cho lưu lượng máu tốt hơn. Flavonoid cũng giúp bảo vệ cơ thể khỏi bệnh ung thư và ngăn ngừa viêm nhiễm.

13. Lòng trắng trứng
Lòng trắng trứng là protein tinh khiết. Lòng trắng trứng cung cấp protein chất lượng cao nhất cùng với tất cả các acid amin thiết yếu. Nếu đang áp dụng chế độ ăn uống bảo vệ thận, lòng trắng trứng là một lựa chọn do có ít phốt pho hơn so với các nguồn protein khác như lòng đỏ trứng hoặc thịt.

14. Cá
Cá là một nguồn protein chất lượng cao. Cả Hiệp hội Đái tháo đường Mỹ và Hiệp hội Tim mạch Mỹ đều khuyến cáo nên ăn cá 2 hoặc 3 lần một tuần.
Bên cạnh nguồn protein tuyệt vời, cá còn chứa chất béo chống viêm omega-3. Những chất béo lành mạnh này giúp phòng ngừa bệnh ung thư và bệnh tim. Omega-3 cũng góp phần giảm LDL (cholesterol xấu) và tăng HDL (cholesterol tốt). Các loại cá có nhiều omega-3nhất là cá hồi, cá ngừ, cá thu, cá trích và cá hồi vân.

15. Dầu Ô liu
Nghiên cứu đã chỉ ra rằng người dân ở các quốc gia dùng dầu ô liu thay cho các loại dầu ăn khác có tỷ lệ ung thư và bệnh tim thấp hơn. Điều này là minh chứng cho nhiều thành phần tốt có trong dầu ô liu: acid oleic, một acid béo chống viêm bảo vệ chống lại quá trình oxy hóa và polyphenol ngăn ngừa viêm nhiễm và quá trình oxy hóa.

VIII- Công dụng của 4 loại thuốc kiểm soát bệnh tiểu đường, tim mạch và phục hồi chức năng thận để tránh phải lọc thận nhân tạo :

1-KIM TIỀN THẢO :

Kim tiền thảo là thuốc thiên nhiên tên dân gian gọi là Lá Cỏ Đồng Tiền có bào chế sẵn thành thuốc viên bán trong tiệm thuốc bắc.

Công dụng :

Chữa sỏi đường tiết niệu. ...
Chữa sỏi đường mật. ...
Chữa phù, viêm túi mật, viêm thận, viêm gan. ...
Viêm túi mật và đường mật. ...
Chữa sỏi niệu gây chảy máu, sung huyết. ...
Điều trị bệnh trĩ ...
Chữa viêm gan vàng da.

1.  Tác dụng của Kim tiền thảo trong điều trị bệnh
Theo các nghiên cứu chỉ ra rằng trong thành phần của kim tiền thảo có những hoạt chất như Herba Glechomae Longtubae; Lysimachinae Christinae,…. đều là những chất có tác dụng tốt cho sức khỏe con người. Chính vì thế người ta sử dụng kim tiền thảo trong việc điều trị một số những bệnh lý liên quan tới hệ bài tiết, tuyến mật, các bệnh liên quan đến hệ tim mạch, sỏi thận,…
Trong y học hiện đại, cây kim tiền thảo có thành phần chính là Coumarin là một loại hợp chất Este nội khi được đưa vào cơ thể đến môi trường kiềm ở đại trường thì hủy mỡ và cho ra Acid Coumaric. Acid Coumaric có khả năng phá vỡ được muối calci với một số Acid khác như Acid oxalat nhờ thế mà chúng có thể dễ dàng được đào thải ra ngoài cơ thể.
Không nên lạm dụng Kim tiền thảo
Theo y học cổ truyền thì kim tiền thảo được biết đến là một trong những loại thảo dược lành tính, uống hằng ngày có thể giúp cơ thể thanh nhiệt, giải độc, giúp chống viêm kháng khuẩn, lợi tiểu lợi mật, mát gan,…Mặc dù là một loại thảo dược lành tính, tuy nhiên việc sử dụng nó quá nhiều cũng là điều không nên, thậm chí còn có thể gây ra tác dụng phụ.
Một số trường hợp lạm dụng quá nhiều tới việc sử dụng Kim tiền thảo trong điều trị sỏi thận có thể gây ra mẩn, mụn mủ, làm suy giảm các chức năng của gan, thận. Với những người dễ bị dị ứng, hoặc bị tiêu chảy, tỳ hư thì cần tránh sử dụng loại thảo dược này.

Trong thời gian bệnh nhân lọc thận nhân tạo 3 lần/tuần, thì mỗi ngày trước khi tập bài Cúi Lạy Lọc Thận sáng uống 5 viên, tối uống 5 viên cho thuốc làm tan sạn trong thận, và thuốc kích thích co bóp thận để tống sạn thì tống theo creatinin, và tinh bột theo nước tiểu ra ngoài.
Để trợ giúp thận co bóp và lọc máu thu hồi lại được các chất cần thiết như tế bào máu, creatin, phải uống thêm 1-2 ly nước mia để trong khi tập bài Cúi Lạy Lọc Thận, chức năng thận sẽ thu hồi các khóang chất trong mía, điều chỉnh lướng đường khi cơ thể thiếu đường thì thận thu hồi đường, khi cơ thể thừa đường thận sẽ thải ra ngoài theo nước tiểu, khí thấy nước tiểu ra nhiều, tiểu dễ, nước tiểu đục là các chất cặn bẩn trong thận được tống ra ngoài, cho đến khi nước tiểu trong và vàng nhạt thì chức năng tận đã phục hồi,
Có người đang lọc thận 3 lần/tuần, cùng đồng thời áp dụng uống 6 ly nước mía/ngày trong 6 tháng, chức năng thận được phục hồi không còn phải bị lọc thận, đã đi làm việc trở lại bình thường khỏe mạnh không bệnh tật.

2-CÔNG DỤNG CHITOSAN :
Chitosan là chất như thế nào? Nó có tác dụng gì?

Đối với đại đa số người, Chitosan là một cái tên tương đối lạ. Thực ra, con người từ rất sớm đã bắt đầu nghiên cứu Chitosan. Trong “Cương mục bản thảo” có ghi chép: vỏ cua có công năng làm tiêu vết bầm tím. Bản thân từ “cua” có nghĩa là “loài vật có khả năng giải độc”. Đầu thế kỷ 19, học giả người Pháp Burano đã phát hiện ra chất Chitosan trong các loại nấm, từ đó nhân loại bắt đầu nghiên cứu và ứng dụng lâu dài. Chitosan còn được gọi là Chitin, xác tụ đường, xác đường an, giáp xác tố, yếu tố thứ sáu v.v…Phần lớn chất này tồn tại trong tôm, cua, côn trùng, lá cây v.v… thành phần sinh sản trong giới tự nhiên chỉ đứng sau chất cellulose, dự đoán sinh vật biển tỷ lệ tạo thành một năm là hơn 1 tỷ tấn. Trong suốt hơn một thế kỷ phát hiện ra chất Chitosan thì con người luôn cho rằng Chitosan là chất bỏ đi, bởi vì nó không hoà tan trong nước, kiềm,acid và bất cứ chất nào khác, nhưng kết quả nghiên cứu cho thấy khả năng vận dụng của nó còn cao hơn cellulose rất nhiều. Cùng với sự phát triển của khoa học, con người phát hiện ra những đặc tính ở Chitosan mà cellulose không có, nó là chất xơ động vật có thể ăn được duy nhất trong giới tự nhiên hiện nay có chứa ion dương, cũng là yếu tố quan trọng thứ sáu của sự sống con người sau protein, đường, chất béo, vitamin, chất khoáng. Chitosan còn là chất cao phân tử mang điện dương duy nhất trong tự nhiên. Một khi vào cơ thể, nó sẽ nhanh chóng hút lấy các acid béo mang điện âm, che lấp chúng, không để cho chúng bị hấp thụ và đẩy chúng ra khỏi cơ thể. Chất xơ trong nó không ngừng kích thích nhu động đường tiêu, làm cho thức ăn nhanh chóng đi qua đường tiêu hoá. Do vậy, Chitosan thường làm cho mọi người liên tưởng đến khái niệm “giảm béo an toàn”. Không những thế, chất xơ trong Chitosan còn có thể kết hợp với chất béo và Cholesterol, tránh cho chúng không bị hấp thụ vào máu. Chất Chitosan chiết xuất từ loài Giáp xác có được do nghiên cứu, có thể hoạt hoá tế bào cơ thể, điều chỉnh quy luật thần kinh và sự bài tiết hormon, kích thích vận động khoẻ mạnh cơ năng con người. Thực nghiệm khoa học chứng minh rằng: Chitosan có thể ức chế sự hấp thụ Cholestsrol của ruột non từ đó làm giảm nồng độ Cholesterol trong máu,làm cho Cholesterol không lắng trong gan, tránh phát sinh bệnh gan nhiễm mỡ. Đồng thời, Chitosan còn có thể giảm thiểu sự hấp thụ chlorine ion đối với cơ thể, kích thích huyết quản mở rộng, từ đó giảm bớt huyết áp.
Tóm lại, Chitosan có tác dụng làm cho con người trẻ lâu, hoạt hóa tế bào cơ thể, gia tăng khả năng miễn dịch, điều tiết công năng của cơ quan nội tạng, giải độc bảo vệ gan, sàng lọc “rác bẩn” trong cơ thể v.v…do vậy nó cũng nhận được sự ưu ái của mọi người.

Công dụng :

a-Tác dụng giảm béo, giảm cân của Chitosan
Nghiên cứu cho thấy rằng Chitosan ức chế hấp thu chất béo tại đường ruột bằng cách chúng liên kết với các phân tử chất béo và chuyển đổi chúng thành những dạng mà cơ thể không hấp thu qua ruột được.
Bản chất là Polysaccharide như một chất xơ tự nhiên có tác dụng làm chậm rỗng dạ dày, bởi vậy nó gây cảm giác no, giảm cảm giác thèm ăn nên giảm được năng lượng bổ xung thêm vào cơ thể.

b-Tác dụng giảm mỡ máu
Sử dụng chitosan 4% trong chế độ ăn trong 2 tuần cho thấy lượng Cholesterol trong máu giảm đáng kể. Chitosan ngăn chặn quá trình hấp thu cholesterol tại ruột, giảm tích tụ chúng trong gan do đó chống lại quá trình gan nhiễm mỡ.
Với giảm Cholesterol máu, Chitosan ức chế sự hình thành các cục máu đông gây đột quỵ, giảm nguy cơ xơ vữa động mạch

c-Tác dụng giảm đường huyết, phòng chống đái tháo đường
Chitosan đóng vai trò như một chất xơ tự nhiên, trong đường tiêu hóa, ức chế sự hấp thu glucose qua đường ruột. Nghiên cứu trên động vật chứng minh Chitosan có tác dụng ức chế enzym tiêu hóa cacbohydrat alpha-glucosidase, giúp giảm đường huyết sau ăn hiệu quả.
Đồng thời Chitosan làm tăng độ nhạy cảm Insulin thông qua các yếu tố PPAR-gamma, adiponectin, adenosine monophosphate-activated protein kinase, Glucose transporter type 4 làm tăng mức sử dụng đường tại các mô, tế bào làm giảm đường trong máu.

d-Tăng cường sức khỏe đường tiêu hóa
Chitosan ức chế sự phát triển các vi khuẩn có hại đường ruột đồng thời nó như một chất xơ tự nhiên kích thích chọn lọc các vi khuẩn có lợi cho đường tiêu hóa như Lactobacillus, Bifido-bacterium. Bởi vậy nó đóng vai trò như một Prebiotics tự nhiên, phát triển hệ vi khuẩn có lợi đường ruột, giúp tăng cường miễn dịch cơ thể.

e-Tác dụng chống viêm, chống loét
Chitosan ức chế vi khuẩn HP ở dạ dày gây viêm loét dạ dày tá tràng
Khi uống vào cơ thể, kết hợp với nước, Chotisan trương nở tạo thể chất như Gel bao phủ niêm mạc dạ dày. Kết hợp với tác dụng chống viêm của nó giúp làm dịu cũng như lành vết loét hiệu quả.

f-Tác dụng hỗ trợ điều trị ung thư
Tác dụng hỗ trợ điều trị ung thư của chitosan thông qua 3 cơ chế:
Với đặc tính bám chặt vào tế bào biểu mô trong huyết quản, Chitosan kìm hãm các tế bào ung thư không cho chúng lan tỏa ra các cơ quan xung quanh.
Chitosan ức chế tính khuyếch tán của ung thư, làm chậm quá trình phát triển ung thư.
Tăng cường miễn dịch, giúp cơ thể chống lại các tế bào ung thư.

g-Tăng cường chức năng gan
Chitosan ức chế sự hấp thu Cholesterol tại ruột, giảm mỡ máu bởi vậy gián tiếp làm giảm sự tích tụ mỡ trong gan, bởi vậy làm giảm tình trạng gan nhiễm mỡ giúp tăng cường chức năng Gan.

3-THUỐC Orisett ™
Đang được hãng dược Mỹ bào chế từ chotosan thảo mộc, thay vì lấy từ vỏ cua, đang định điểm chuẩn trong hỗ trợ đường huyết nâng cao cho người tiêu dùng tiền đái tháo đường
Với tiền tiểu đường là mối quan tâm hàng đầu đối với người tiêu dùng ở mọi lứa tuổi, nhu cầu về các loại dược phẩm dinh dưỡng được thử nghiệm lâm sàng có hiệu quả cao giúp thúc đẩy duy trì đường huyết khỏe mạnh đang có được động lực.
Orisett ™ (được tiếp thị bởi NutraGenesis) là một loại dược phẩm tiên tiến, có nguồn gốc tự nhiên, đang chờ cấp bằng sáng chế và tuân thủ quy định. Được cấu tạo từ chitosan oligosacarit được điều chế bằng enzyme,
Orisett ™ đang xác định chuẩn mực cho các thành phần hỗ trợ đường trong máu vì nó có hiệu quả vượt trội và nhiều cơ chế hoạt động giúp hỗ trợ lượng đường trong máu cũng như trong phạm vi bình thường.
Orisett ™ giúp cung cấp cả cân bằng đường huyết sau ăn nhanh, ngắn hạn cũng như quản lý đường huyết dài hạn bằng cách giúp kiểm soát tiêu hóa carbohydrate và tăng cường độ nhạy insulin.
Các đặc tính tác dụng nhanh và cơ chế kiểm soát carb của Orisett đã được chứng minh trong một thử nghiệm lâm sàng ở người được công bố gần đây
Trong quá trình nghiên cứu in vitro và in vivo,
Orisett ™ đã được tìm thấy để ngăn chặn một phần tiêu hóa carbs, dẫn đến tăng cường cân bằng đường huyết. Các đặc tính kiểm soát carb của Orisett dựa trên khả năng ức chế enzyme alpha-glucosidase. Điều này làm cho đường sucrose và tinh bột có nguồn gốc bị phá vỡ và hấp thụ vào máu với tốc độ giảm. Giờ đây, một thử nghiệm lâm sàng ở người vừa được công bố (trong tạp chí đánh giá ngang hàng, Khoa học thực phẩm và Công nghệ sinh học) đã cung cấp bằng chứng lâm sàng về lợi ích điều trị glucose tác dụng nhanh của Orisett và cơ chế ngăn chặn carb.
Liều Orisett ™ 500 mg sau đó là 75 mg sucrose 20 phút sau đó giúp giảm đáng kể mức tăng đường huyết sau bữa ăn (so với giả dược) cũng như sự chậm trễ trong việc hấp thụ glucose từ hệ thống tiêu hóa. Ba mươi phút sau khi tiêu thụ đường, nồng độ glucose sau ăn trong nhóm Orisett ™ thấp hơn 13% so với mức trong nhóm giả dược trong khi thời gian của lượng đường trong máu cao nhất bị trì hoãn 40%. Những kết quả này rất có thể là kết quả của khả năng của Orisett trong việc giúp giảm sự phân hủy sucrose bằng cách ức chế alpha-glucosidase. Orisett ™ đã được tìm thấy là có sinh khả dụng cao và dung nạp tốt.
Lưu ý: Tính chất duy trì glucose dài hạn và cơ chế nhạy cảm với insulin của Orisett đã được xác nhận trong các nghiên cứu lâm sàng khác trên người và in vivo.
Orisett ™ có sự hỗ trợ về mặt khoa học và quy định để vượt trội như một loại dược phẩm kiểm soát glucose lý tưởng cho thị trường tiền đái tháo đường. Nó có các yêu cầu về cấu trúc / chức năng trong các lĩnh vực Cân bằng lượng đường trong máu và Cân bằng chuyển hóa / Sức khỏe trao đổi chất. Orisett ™ có thể được sử dụng như một thành phần độc lập hoặc là thành phần độc quyền đặc trưng trong việc duy trì glucose và các công thức bổ sung chế độ ăn uống cho sức khỏe trao đổi chất. Orisett ™ có thể nâng cao tính mới, trạng thái đặc biệt của nhiều ứng dụng sản phẩm bao gồm: viên nang, viên nén, gói thanh, hỗn hợp nước uống, kẹo dẻo, v.v. Ngoài ra, Orisett ™ tuân thủ theo quy định sẽ được bán ở Bắc Mỹ cũng như quốc tế và do đó cung cấp cơ hội đáng kể cho các công ty tiếp thị nguyên liệu ở các khu vực này ..

4-GLYCINE
Tác dụng của glycine đối với sức khỏe
Theo nghiên cứu của Departments of Cell and Developmental Biology thuộc Đại học Bắc Carolina ở Chapel Hill, glycine có thể được sử dụng để giúp giảm triệu chứng ở những người mắc các bệnh như: Loét dạ dày, viêm khớp, hội chứng ruột bị rò rỉ, tiểu đường, bệnh thận, suy tim, rối loạn thần kinh, mệt mỏi kéo dài, rối loạn giấc ngủ và thậm chí một số bệnh ung thư.
Glycine có thể được tìm thấy ở dạng bổ sung nhưng bạn có thể bổ sung từ nguồn thực phẩm tự nhiên để thu được lợi ích tốt nhất.
a. Thúc đẩy tăng trưởng cơ bắp
Glycine là một trong các acid amin cần thiết cho quá trình sinh tổng hợp creatin
Creatin cung cấp cho cơ bắp một nguồn năng lượng trực tiếp và giúp xây dựng các mô cơ và sức mạnh. Nó cũng giúp cung cấp năng lượng cho tế bào nhờ vai trò trong việc chuyển đổi chất dinh dưỡng từ chế độ ăn uống của bạn, giúp nuôi các mô cơ, tăng cường độ bền, sức mạnh và hiệu suất. Nó cũng có lợi trong việc sản xuất và quy định hormon giúp cơ thể tổng hợp hormon steroid điều chỉnh tỷ lệ chất béo và kiểm soát tiêu hao năng lượng.

Nó cũng hữu ích cho bệnh nhân hồi phục sau phẫu thuật hoặc các nguyên nhân khác gây khó khăn trong vận động vì nó có thể giúp ngăn ngừa thoái hóa cơ. Glycine đã được chứng minh là giúp ức chế sự suy giảm của mô có giá trị hình thành cơ bắp và tăng cường phục hồi cơ bắp. Trong thực tế, nó được gọi là “acid amin chống lão hóa” vì giúp duy trì khối lượng cơ khi tuổi tác tăng dần, kích thích sự bài tiết hormon tăng trưởng, ngăn ngừa mất sức thậm chí cải thiện năng lượng ban ngày, hiệu suất tập luyện và nâng cao tinh thần (tất cả đều quan trọng đối với 1 vận động viên).

b. Sửa chữa và bảo vệ sụn khớp
Cùng với các acid amin khác trong nước hầm xương (đặc biệt là proline), glycine đóng vai trò quan trọng trong sự hình thành collagen, thúc đẩy sự tăng trưởng và chức năng của các khớp, gân và dây chằng. Khoảng 1/3 collagen được tạo thành từ glycine và collagen là yếu tố quan trọng trong việc hình thành các mô liên kết giúp giữ cho các khớp mềm dẻo và có thể chịu được sốc. Đây là lý do tại sao collagen thủy phân thường được sử dụng để điều trị các bệnh thoái hóa khớp như viêm xương khớp.
Khi mọi người già đi, điều đặc biệt quan trọng là cần tiêu thụ đủ protein (axit amin) để sửa chữa mô trong các khớp bị tổn thương do các tác hại của gốc tự do. Glycine rất cần thiết cho sự co giãn, dẻo dai của sụn; giúp chữa lành các khớp bị tổn thương và có thể ngăn ngừa mất khả năng vận động và chức năng ở người lớn tuổi.

c. Cải thiện hệ tiêu hóa
Acid amin, bao gồm glycine và proline, giúp tái tạo mô đường tiêu hóa, giữ cho các hạt thức ăn và vi khuẩn bên trong ruột thay vì để chúng đi qua những lỗ nhỏ chuyển đến máu và gây viêm. Glycine giúp tạo thành hai trong số những chất quan trọng nhất tạo nên lớp ruột: collagen và gelatin.
Collagen và gelatine có thể làm dịu niêm mạc đường tiêu hóa ở những người mắc bệnh viêm ruột hoặc khó tiêu (bao gồm hội chứng ruột bị rò rỉ, IBS, Crohn’s, viêm loét đại tràng và trào ngược axit dạ dày), thậm chí thúc đẩy cân bằng và phát triển probiotic.
Glycine ức chế sự tiết acid trong dạ dày và bảo vệ chống lại các chứng loét do hóa chất và gây ra căng thẳng. Glycine có hoạt động chống loét đáng kể. Glycine ngăn ngừa viêm đại trường, ngăn ngừa các tổn thương dạ dày gây ra do rượu. Glycine có thể làm tăng đáng kể khả năng dung nạp của Aspirin ở đường tiêu hóa trên.
Glycine còn cải thiện rối loạn chức năng cơ trơn sau khi cấy ghép cũng như làm giảm chứng viêm, có thể duy trì tính toàn vẹn của ruột và niêm mạc trong xạ trị liệu ung thư.
Trong đường tiêu hóa, glycine cũng hoạt động như một loại nhiên liệu cho quá trình trao đổi chất. Nó cần thiết để sản xuất mật, acid nucleic, creatin phosphate và porphyrins – những chất được sử dụng để phá vỡ các chất dinh dưỡng từ chế độ ăn uống. Ví dụ, nó giúp phá vỡ chất béo bằng cách trợ giúp cho việc sản xuất acid mật và giúp vận chuyển glycogen đến các tế bào sử dụng năng lượng dưới dạng ATP. Bằng chứng cũng cho thấy glycine có thể giúp ổn định lượng đường trong máu, dẫn đến kéo dài thời gian hoạt động và ngăn ngừa cảm giác thèm ăn, mệt mỏi.

d. Làm chậm quá trình lão hóa
Glycine giúp tạo thành glutathione, một chất chống oxy hóa có giá trị được sử dụng để ngăn ngừa tổn thương tế bào và các dấu hiệu lão hóa khác nhau. Một nghiên cứu năm 2011 được công bố trên tạp chí American Journal of Clinical Nutrition cho thấy thiếu glutathione ở người già xảy ra do giảm tổng hợp, bổ sung tiền chất glutathione cysteine và glycine sẽ khôi phục hoàn toàn tổng hợp glutathione. Điều này giúp tăng nồng độ và làm giảm mất cân bằng oxy hóa, giảm tổn thương oxy hóa dẫn đến lão hóa.
Trong một số nghiên cứu, glycine thậm chí còn được tìm thấy để giúp ngăn ngừa đột biến tế bào dẫn đến ung thư. Có một số bằng chứng cho thấy việc sử dụng liệu pháp acid amin có thể ngăn chặn sự phát triển của các tế bào ung thư bằng cách cắt giảm nguồn cung cấp năng lượng và giúp giảm viêm, có liên quan đến nhiều bệnh mãn tính khác ngoài ung thư.

e. Tác dụng chống viêm
Viêm vốn là khởi nguồn của nhiều bệnh tật. Glycine tác động trực tiếp lên các tế bào viêm, từ đó thực hiện khử các nhân tố phiên mã, hình thành các gốc tự do và các cytokines viêm. Glycine làm giảm TNF-alpha và tăng IL-10. Glycine làm tăng sự sản xuất IL-10 chống viêm trong tổn thương gan gây ra bởi độc tố, làm tăng tỷ lệ sống sót của chuột trong thử nghiệm.
f. Hỗ trợ hệ thần kinh
Glycine có lợi cho việc hỗ trợ nhận thức và thần kinh trung ương vì nó giúp điều hòa tổng hợp trao đổi chất của một số chất dinh dưỡng mà não và dây thần kinh sử dụng. Nó giúp điều chỉnh xung thần kinh khắp cơ thể bằng cách cân bằng các mức điện giải, chẳng hạn như calci, chlor và kali.
Do vai trò của nó trong chức năng thần kinh và dẫn truyền thần kinh, glycine cũng giúp cải thiện giấc ngủ, nâng cao tinh thần, cải thiện tâm trạng, trí nhớ và hành vi. Ví dụ, glycine hoạt động với các acid amin khác, bao gồm taurine và acid gamma-amino butyric (GABA), như một chất ức chế dẫn truyền thần kinh.
Dùng glycine trước khi ngủ cải thiện chất lượng và hiệu quả của giấc ngủ bằng cách tăng thời gian ngủ và có giấc ngủ sâu bởi Glycine ảnh hưởng đến các neuropeptides nhất định trong SCN trong vùng hippocampus (vùng có tác dụng điều chỉnh nhịp sinh học của cơ thể). Sau khi dùng glycine cho giấc ngủ, các đối tượng trong những ngày tiếp theo đã giảm buồn ngủ ban ngày và cải thiện năng suất làm việc. Theo nghiên cứu của Hiệp hội Nghiên cứu giấc ngủ Nhật Bản, chất bổ sung glycine giúp cải thiện chất lượng giấc ngủ, giảm bớt buồn ngủ ban ngày và cải thiện hiệu suất của nhiệm vụ nhận dạng bộ nhớ.
Sử dụng một lượng nhỏ glycine đã được chứng minh tác dụng làm giãn các tế bào nội mô trong não lên đến 250%. Thí nghiệm ở những con chuột bị ngộ độc rượu cho thấy glycine có thể làm giảm sự tích tụ cholesterol, acid béo tự do và triglycerides trong tuần hoàn máu, gan và não. Thiếu glycine trong não có thể ảnh hưởng tiêu cực đến thần kinh do ảnh hưởng tới quá trình tổng hợp collagen, RNA/DNA, porphyrins và các chất chuyển hóa quan trọng khác.
Ngoài ra nó còn hỗ trợ điều trị các bệnh tâm thần. Bổ sung glycine trong suốt 5 năm có thể làm giảm đáng kể các triệu chứng của OCD (rối loạn ám ảnh cưỡng chế) ở người lớn. Bổ sung glycine làm giảm đáng kể triệu chứng tâm thần phân liệt.

Ở bệnh nhân tâm thần phân liệt nó giúp điều trị cải thiện các triệu chứng nhận thức. Glycine giúp điều trị bệnh tâm thần phân liệt bằng cách làm tăng sự truyền dẫn thần kinh trung gian qua thụ thể NMDA và nó được sử dụng cùng với thuốc điều trị tâm thần.

g. Làm giảm mệt mỏi
Do vai trò của nó trong hệ thống thần kinh trung ương và hệ thống tiêu hóa, glycine có thể giúp tăng cường mức năng lượng, cân bằng lượng đường trong máu và ngăn ngừa mệt mỏi. Nó thậm chí có thể được sử dụng để làm dịu sự lo lắng hoặc căng thẳng khiến bạn thức giấc vào ban đêm và giúp ngủ ngon hơn. Không những vậy, nó còn giúp mang trực tiếp chất dinh dưỡng đến các tế bào và mô để cung cấp năng lượng vào mọi thời điểm trong ngày.
Một trong những chức năng quan trọng nhất của nó là giúp thực hiện quá trình sinh tổng hợp heme, một thành phần của hemoglobin giúp sản xuất và duy trì các tế bào máu hồng cầu. Hồng cầu giúp mang oxy khắp cơ thể, hỗ trợ chức năng tế bào và cung cấp oxy cho mô, tim và não. Trong thực tế, glycine thường được sử dụng trong các chất bổ sung để cải thiện năng lượng trong các vận động viên, chống mệt mỏi do thiếu máu và giúp điều chỉnh lượng đường trong máu.
h. Giúp cải thiện làn da
Glycine (thông qua việc tiêu thụ collagen) cải thiện đáng kể tính đàn hồi của da ở phụ nữ cao tuổi, cải thiện độ ẩm và mất nước của da. Collagen thủy phân có lợi trong việc ngăn chặn UV-B gây tổn thương da và lão hóa da.
Phụ nữ dùng 2,5g collagen peptide trong 4 tuần giảm 20% nếp nhăn ở mắt và có hiệu quả kéo dài sau khi nghiên cứu kết thúc. Vào tuần thứ 8, collagen đã cải thiện đáng kể độ đàn hồi da lên đến 65%. Glycine làm chậm tác động của lão hóa bằng cách cải thiện việc sử dụng chất chống oxy hóa của cơ thể, đồng thời cấu tạo nên cơ, từ đó giúp làn da săn chắc, khỏe mạnh và giảm tác động lão hóa.
Cách bổ sung Glycine đúng cách, hiệu quả
Liều lượng sử dụng
Không có lượng glycine chính thức được đề nghị hàng ngày. Các nghiên cứu đã phát hiện ra rằng nó có thể được sử dụng một cách an toàn với liều cao lên tới 15-60 gam mỗi ngày khi cần thiết. Uớc tính cho thấy hầu hết người phương Tây có chế độ ăn uống tiêu chuẩn chỉ tiêu thụ khoảng 2 gam glycine từ chế độ ăn hàng ngày, rất có thể vì các nguồn tập trung glycine như gân động vật, da và xương thường bị loại bỏ.
Thực tế trẻ em khỏe mạnh, thanh thiếu niên và người lớn bị stress tâm lý, mất trí nhớ, giảm trí nhớ, rối loạn tâm thần, chậm phát triển trí tuệ có thể dùng 200-300 gam/ngày trong 14- 30 ngày.
Đối với các rối loạn giấc ngủ, glycine được dùng 20 phút trước khi đi ngủ với liều 50mg.
Với người loét dạ dày: hỗn hợp 30% glycin và 70% calci carbonat có tác dụng trung hòa acid như sữa. Khi có chỉ định dùng sữa để điều trị loét dạ dày mà người bệnh lại không dung nạp được sữa thì nên dùng chế phẩm này. Ưu điểm của chế phẩm này là không gây ra nhiễm kiềm toàn thân và không gây ra tăng toan trở lại do bù trừ. Liều thông thường là 1 đến 2 viên (viên 150mg glycin và 350mg calci carbonat).
Thực phẩm giầu glycine
Trong khi các loại thực phẩm giàu protein (như thịt và các sản phẩm từ sữa) có chứa một số glycine, thì các nguồn tốt nhất có chứa collagen và gelatin – lại rất khó để thu được. Những protein này không được tìm thấy trong thịt mà thay vào đó là thu được từ da, xương, gân và dây chằng, hầu hết là các bộ phận mà mọi người loại bỏ. Những người bị bệnh, cần phục hồi sau phẫu thuật hoặc uống thuốc cản trở một số quá trình trao đổi chất, những người chịu nhiều căng thẳng kéo dài đều có thể sử dụng thêm glycine để phục hồi.
Bổ sung glycine từ chế độ ăn uống có lẽ thậm chí còn dễ dàng hơn. Nước dùng xương là một nguồn tuyệt vời của glycine tự nhiên và các acid amin khác, không tốn kém, đơn giản dễ làm và có nhiều lợi ích cho sức khỏe. Nước dùng xương được làm từ các bộ phận động vật bao gồm xương, da và gân chứa collagen tự nhiên, giải phóng các acid amin quan trọng và các chất khác thường thiếu trong chế độ ăn uống.
Tuy nhiên, nếu không thích sử dụng nước dùng xương, là người ăn chay hoặc thuần chay, có thể bổ sung glycine từ thực phẩm thực vật. Các nguồn thực vật giàu glycine bao gồm đậu, rau cải như cải bó xôi, cải xoăn, súp lơ, cải bắp, bí đỏ; trái cây như chuối và kiwi. Khác với nước dùng xương, glycine cũng có thể được tìm thấy trong “nguồn protein hoàn chỉnh” (protein động vật), bao gồm thịt, sản phẩm từ sữa, gia cầm, trứng và cá.
Đừng quên rằng glycine cũng được tìm thấy với số lượng cao trong gelatin, một chất làm từ collagen được sử dụng trong một số công thức nấu ăn, nhất là thạch. Gelatin không thường được ăn với số lượng lớn nhưng có thể được thêm vào công thức nấu ăn khi thực hiện một số món tráng miệng, sữa chua, pho mát tươi hoặc thậm chí cả kem.

Dưới đây là một số công thức nấu ăn đơn giản, bạn có thể làm ở nhà để tăng lượng glycine của bạn :
Súp với nước hầm xương gà thêm bí đỏ
Salad đậu với phô mai
Bí đỏ xào tỏi
Gà hầm rau củ quả
Canh bí đỏ với nước hầm xương
Cá ngừ sốt phô mai
Trà hoa cúc

Lưu ý khi bạn bổ sung glycine:
Trong khi một số loại thực phẩm (đặc biệt là protein động vật và nước dùng xương) cung cấp một số glycine, tuy nhiên hàm lượng trong thực phẩm khác nhau, do đó bạn cần phải uống bổ sung nếu bạn muốn có được một lượng cao hơn.
Không có khuyến cáo hàng ngày hoặc giới hạn trên của glycine tại thời điểm này. Người ta tin rằng hầu hết mọi người đã nhận được khoảng 2 gam glycine hàng ngày từ chế độ ăn, nhưng nhu cầu cụ thể khác nhau rất nhiều tùy thuộc vào mức độ hoạt động và tình trạng sức khỏe của từng người. Tùy thuộc vào các triệu chứng đang tìm cách giải quyết, có thể sử dụng lượng cao hơn 10 lần hoặc nhiều hơn thế nữa với sự chỉ định của bác sỹ.
Không phải tất cả các chất bổ sung protein/amino acid đều được tạo ra như nhau. Hãy tìm kiếm các thương hiệu chất lượng cao được bán từ các công ty có uy tín và bổ sung thực phẩm bất cứ khi nào có thể.
Bởi vì glycine là một acid amin tự nhiên nên không có nhiều rủi ro khi tiêu thụ quá nhiều từ chế độ ăn uống. Ở dạng bổ sung, liều cao glycine trong khoảng 15-60 gam đã được sử dụng một cách an toàn để giúp giải quyết các tình trạng mãn tính như rối loạn tâm thần.
Dung dịch glycin 1,5% trong nước vô khuẩn là dung dịch nhược trương và không dẫn điện, được dùng để làm vết loét chi dưới mau liền sẹo và được dùng làm dung dịch tưới rửa niệu đạo trong một số phẫu thuật như phẫu thuật qua niệu đạo, phẫu thuật điện. Tất nhiên, nó chỉ được sử dụng dưới chỉ định của bác sỹ tại cơ sở y tế.
Bổ sung glycine cũng có thể tương tác với một số loại thuốc nhất định khi dùng với liều cao (chẳng hạn như những người bị rối loạn tâm thần, bao gồm cả clozapine). Mặc dù đối với hầu hết mọi người glycine là rất an toàn (đặc biệt là ở dạng thức ăn), nếu uống thuốc, nên trao đổi với bác sĩ khi bạn bắt đầu sử dụng bất kỳ chất bổ sung nào.
Cuối cùng, đôi điều về glycine nên nhớ:
Glycine là một trong 20 acid amin được sử dụng để tạo ra protein trong cơ thể, tạo nên mô tạo thành các cơ quan, khớp và cơ bắp, do đó nó có vai trò với hầu hết các cơ quan.
Nó giúp hình thành collagen và gelatin, các chất quan trọng để xây dựng các mô liên kết khắp cơ thể.
Glycine trong cả thực phẩm và dạng bổ sung có lợi cho những người bị đau khớp, rối loạn tiêu hóa (như IBS, IBD), mệt mỏi, khó ngủ, lo âu và có miễn dịch thấp.
Nó có những vai trò chính sau đây: làm giảm mệt mỏi, hỗ trợ hệ thần kinh, tác dụng chống viêm, làm chậm quá trình lão hóa, cải thiện hệ tiêu hóa, sửa chữa và bảo vệ sụn khớp, thúc đẩy tăng trưởng cơ bắp và cải thiện làn da.
Không có lượng glycine hoặc giới hạn trên được đề nghị hàng ngày, các nghiên cứu đã phát hiện ra rằng nó có thể được sử dụng một cách an toàn với liều cao lên tới 15-60 gram mỗi ngày khi cần thiết. Tuy nhiên, ước tính cho thấy hầu hết mọi người tiêu thụ khoảng 2 gam glycine từ chế độ ăn hàng ngày bởi các nguồn tập trung glycine như gân động vật, da và xương thường bị loại bỏ.
Glycine có nhiều trong động vật, trứng, sữa, gia cầm, cá, đậu, bắp cải, cải xoăn, cải bó xôi, bí đỏ, chuối, kiwi…

Bài đọc thêm :

Bài 1:

Người chạy thận nhân tạo cần ăn ít đạm, muối, tăng canxi và vitamin, uống nước vừa phải.
Chế độ ăn uống rất quan trọng
Hạn chế ăn hoa quả vì làm tăng kali máu có thể gây ngưng tim
Do thận đã ngưng làm việc nên những chất độc được sinh ra trong cơ thể chỉ được đào thảikhi chạy thận nhân tạo nên cần kiêng một số thức ăn nguy hiểm, đó là trái cây, rau sống đặc biệt nên tránh xa sầu riêng, chuối, nước mía, dừa. Nếu bạn thèm loại trái cây nào, thì khi chạy thận được 1 tiếng, có thể ăn ngay lúc đó, nhưng cần tham khảo bác sĩ để được hướng dẫn cụ thể về số lượng trái cây có thể ăn. Nên dự trữsẵn một ít thuốc làm hạ kali trong người nếu muốn ăn trái cây.
Không nên ăn quá nhiều đạm
Người suy thận giai đoạn cuối không thể tự đào thải urê (một độc tố sinh ra từ đạm), dù chạy thận có thể giúp lọc ure máu nhưng những ngày không chạy thận, ure tăng cao có thể khiến bệnh nhân bị choáng váng và mệt mỏi. Nồng độ urê tăng cao cũng gây hại cho các cơ quan khác như tim, não, mạch máu. Để thoải mái hơn, bệnh nhân suy thận nên nhớ chỉ nên ăn đạm bằng 2/3 so với nhu cầu của mình lúc bình thường. Trước khi chạy thận có thể làm lại xét nghiệm urê, để từ đó biết được lượng đạm ăn vào nhiều hay ít để điều chỉnh lại.
Bảo vệ mạch máu như mạng sống
Người chạy thận lâu dài thường có một cầu nối động tĩnh mạch ở tay. Nếu người bệnh không biết giữ gìn, nằm ngủ đè lên tay, dùng tay có ống nối này mang vác vật nặng thì sẽ làm hư, tắc ống. Có nhiều bệnh nhân mạch máu xơ chai hết, do các bệnh lý mãn tính khác nhau, dẫn đến khó khăn trong việc tạo đường mạch máu chạy thận. Khi có dấu hiệu bất thường cần báo bác sĩ ngay, tuân thủ điều trị các bệnh lý mạn tính như đái tháo đường, tăng huyết áp… tốt thì sẽ góp phần bảo vệ mạch máu. Riêng những bệnh nhân đang chạy thận bằng ống thông nhân tạo (catheter) thì cần giữ gìn vệ sinh cho tốt, tránh tiêu tiểu, nước dây vào dễ gây nhiễm trùng.
Sống cuộc đời bình thường
Tinh thần đặc biệt quan trọng, có nhiều bệnh nhân là công nhân, sáng họ đi làm, tối về chạy thận, vẫn có vợ con (chỉ có nữ giới là khó mang thai) bình thường. Người cao tuổi ngoài lúc chạy thận, vẫn có thể đi chợ, nấu cơm, tập dưỡng sinh, tham gia các câu lạc bộ, thậm chí đi làm việc nhẹ nhàng, trừ lao động nặng. Tinh thần tốt, cơ thể mới có thể đáp ứng điều trị tốt nhất vì lúc đó tình trạng tăng huyết áp, suy tim cũng được cải thiện. Ngoài ra bệnh nhân chạy thận cũng nên tập một số môn dưỡng sinh nhẹ nhàng giúp hỗ trợ sức khoẻ, tinh thần như Pháp Luân Công, Yoga, Thái cực quyền…


Bài 2 :

Đông y chữa suy thận độ 1, 2, 3, 4 an toàn, hiệu quả
Đông y hỗ trợ chữa suy thận độ 1, 2, 3, 4 theo nguyên tắc kết hợp trị triệu chứng cùng việc cung cấp dưỡng chất giúp thận phục hồi chức năng một cách tự nhiên. Trong các bài thuốc Đông y hiện nay, không bài thuốc nào làm tốt nhiệm vụ này hơn Cao Bổ Thận Tâm Minh Đường.
Cao Bổ Thận được điều chế từ 6 vị thảo dược “kinh điển” trong Đông y giúp hỗ trợ chữa suy thận độ 1, 2, 3, 4 rất hiệu quả:
Bằng sự thành thạo và cao tay của mình, lương y đã khéo léo kết hợp 6 vị thuốc theo nguyên tắc riêng biệt tại Tâm Minh Đường đem tới cơ chế chữa suy thận độ 1, 2, 3, 4 như sau:
Ích thận, dưỡng huyết, kích thích đào thải độc tố ra ngoài cơ thể.
Bồi bổ dinh dưỡng phục hồi tế bào thận hư, phục hồi khả năng hoạt động của thận.

--------------

Bài 3 :

Thông tin tổng quan
Natri bicarbonate là một loại muối phân hủy để tạo thành natri và bicarbonate trong nước. Sự phân hủy này tạo ra một dung dịch kiềm, có nghĩa là nó có thể trung hòa axit. Bởi vì điều này, sodium bicarbonate thường được sử dụng để điều trị các tình trạng gây ra bởi tính axit cao trong cơ thể, chẳng hạn như chứng ợ nóng.

Người ta dùng sodium bicarbonate bằng đường uống để làm sạch ruột, chức năng thận kém, khó tiêu, hiệu suất tập thể dục, kali cao trong máu, hồi sinh trẻ sơ sinh, loét dạ dày và sỏi tiết niệu.

Người ta bôi natri bicarbonate lên da khi bị bỏng hóa chất, mảng bám răng, loại bỏ ráy tai, chàm, vết côn trùng cắn hoặc vô sinh, viêm ở niêm mạc niêm mạc đường tiêu hóa, sồi độc và cây thường xuân độc hại, ngứa và ngứa , ngứa da (bệnh vẩy nến).

Natri bicarbonate được tiêm tĩnh mạch (IV) để hồi sức tim, chức năng thận kém, độc tính cocaine, để ngăn ngừa tổn thương thận do thuốc nhuộm sử dụng trong một số xét nghiệm X-quang, ngộ độc từ một số dị ứng, hồi sinh trẻ sơ sinh, ngộ độc thuốc trừ sâu ảnh hưởng, phá vỡ cơ bắp và tích tụ chất lỏng trong phổi do một hóa chất nhất định.

Mọi người cũng sử dụng sodium bicarbonate, hoặc baking soda, như một thành phần trong làm bánh.

Nó hoạt động như thế nào?
Natri bicarbonate là một loại muối phân hủy trong chất lỏng, bao gồm máu và nước tiểu, để tạo thành natri và bicarbonate. Sự phân hủy này làm cho chất lỏng kiềm, có nghĩa là nó có thể trung hòa axit. Khả năng trung hòa axit này giúp điều trị các tình trạng liên quan đến tính axit cao trong chất dịch cơ thể, chẳng hạn như chứng khó tiêu, gây ra bởi quá nhiều axit trong dạ dày.

Công dụng :
Để ngăn ngừa tổn thương thận do thuốc nhuộm được sử dụng trong một số kỳ thi X-quang. Một số nghiên cứu cho thấy rằng tiêm natri bicarbonate vào tĩnh mạch (bằng IV) trước khi chụp động mạch tim, xét nghiệm sử dụng thuốc nhuộm để chỉ ra bên trong động mạch, có thể làm giảm nguy cơ tổn thương thận. Tuy nhiên, không phải tất cả các nghiên cứu đều phù hợp.
Hiệu suất tập thể dục. Nghiên cứu cho thấy rằng uống sodium bicarbonate bằng miệng 1-2 giờ trước khi tập thể dục cường độ cao trong thời gian ngắn giúp cải thiện sức mạnh trong quá trình tập luyện ở những người đàn ông được đào tạo. Một nghiên cứu khác cho thấy dùng natri bicarbonate bằng đường uống hoặc tiêm tĩnh mạch (bằng IV) tối đa 3 giờ trước khi tập thể dục cường độ cao trong thời gian ngắn giúp cải thiện hiệu suất. Tuy nhiên, dùng sodium bicarbonate dường như không cải thiện hiệu suất ở phụ nữ hoặc không phải vận động viên. Ngoài ra, nó không xuất hiện để cải thiện hiệu suất trong các bài tập kéo dài hơn 10 phút.

Bằng chứng không đầy đủ cho các bệnh sau :

Bệnh thận mãn tính. Một số bằng chứng cho thấy uống natri bicarbonate ba lần mỗi ngày trong 12 tháng giúp cải thiện tình trạng dinh dưỡng và giảm thời gian ở bệnh viện ở những người mắc bệnh thận mãn tính. Tuy nhiên, bằng chứng khác cho thấy rằng việc tăng lượng natri bicarbonate được sử dụng trong lọc máu theo toa tiêu chuẩn không có lợi cho những người mắc bệnh thận.

Mảng răng. Đánh răng bằng kem đánh răng có chứa sodium bicarbonate hàng ngày trong tối đa 4 tuần có thể loại bỏ mảng bám tốt hơn so với sử dụng kem đánh răng không có sodium bicarbonate, đặc biệt là ở những khu vực khó tiếp cận bằng bàn chải đánh răng. Tuy nhiên, nghiên cứu còn hạn chế. Không rõ ràng rằng kem đánh răng có chứa natri bicarbonate có hiệu quả hơn khi sử dụng trong một thời gian dài.
Ráy tai. Nghiên cứu ban đầu cho thấy sử dụng thuốc nhỏ tai sodium bicarbonate hai lần mỗi ngày trong 5 ngày trước khi làm sạch tai giúp làm sạch tai tốt hơn là không điều trị. Tuy nhiên, sodium bicarbonate có thể làm cho việc loại bỏ ráy tai khó khăn hơn so với một số sản phẩm làm mềm ráy tai khác.

Hồi sinh trẻ sơ sinh. Nghiên cứu ban đầu cho thấy rằng tiêm natri bicarbonate vào tĩnh mạch (bằng IV) trong 3-5 phút sau 5 phút không giúp cải thiện khả năng sống sót hoặc giảm nguy cơ tổn thương não ở trẻ sơ sinh không thể thở.

Làm sạch ruột.
Khó tiêu.
Nồng độ kali cao trong máu.
Viêm loét dạ dày.
Sỏi tiết niệu.
Bỏng hóa chất.
Chàm.
Côn trùng cắn hoặc chích.
Khô khan.
Viêm trong niêm mạc niêm mạc đường tiêu hóa.
Sồi độc và cây thường xuân độc.
Ngứa da (ngứa).
Có vảy, ngứa da (bệnh vẩy nến).
Các điều kiện khác.
Cần thêm bằng chứng để đánh giá sodium bicarbonate cho những sử dụng này.

Tác dụng phụ & An toàn
Natri bicarbonate là LIKELY SAFE khi uống bằng miệng một cách thích hợp trong thời gian ngắn và khi sử dụng tiêm tĩnh mạch (bằng IV) và thích hợp với sự giám sát y tế thích hợp. Tuy nhiên, nên tránh dùng liều cao và sử dụng lâu dài natri bicarbonate.

Uống natri bicarbonate lâu dài hoặc với liều cao bằng đường uống có khả năng gây các biến chứng bao gồm vỡ dạ dày và thay đổi nghiêm trọng nồng độ chất điện giải đã được báo cáo sau khi sử dụng natri bicarbonate lâu dài hoặc quá mức.

Phòng ngừa & Cảnh báo đặc biệt:
Mang thai và cho con bú: Không có đủ thông tin đáng tin cậy về sự an toàn của việc sử dụng sodium bicarbonate nếu bạn đang mang thai hoặc cho con bú. Ở bên an toàn và tránh sử dụng.

Ketoacidosis tiểu đường: Natri bicarbonate làm tăng axit trong máu gọi là ketone, có liên quan đến biến chứng tiểu đường trong đó nồng độ axit trong máu quá cao. Những người mắc bệnh này nên tránh natri bicarbonate.

Sưng (phù): Vì natri bicarbonate chứa natri, nó có thể làm tăng nguy cơ sưng do chất lỏng dư thừa trong cơ thể. Những người bị suy tim, bệnh gan hoặc các tình trạng khác liên quan đến sự tích tụ chất lỏng nên thận trọng khi sử dụng sodium bicarbonate.

Nồng độ canxi cao trong máu: Những người có lượng canxi cao trong máu có thể gặp khó khăn khi bài tiết bicarbonate. Do đó, sử dụng sodium bicarbonate có thể làm tăng nguy cơ biến chứng như hội chứng kiềm sữa.

Nồng độ natri cao trong máu: Natri bicarbonate có thể làm tăng nồng độ natri trong máu. Những người đã có nồng độ natri cao trong máu nên tránh natri bicarbonate.

Huyết áp cao: Natri bicarbonate có thể làm tăng huyết áp. Những người đã bị huyết áp cao nên tránh natri bicarbonate.

Nồng độ kali trong máu thấp: Natri bicarbonate có thể làm giảm nồng độ kali trong máu. Những người đã có mức kali thấp nên tránh natri bicarbonate.

Thiếu sắt: Natri bicarbonate làm giảm lượng chất sắt mà cơ thể hấp thụ. Những người bị thiếu sắt nên dùng natri bicarbonate và bổ sung sắt riêng biệt.