Thứ Sáu, 19 tháng 7, 2019

Tiểu đường 13.Thuốc hạ đường gây trào ngược, ung thư thực quản và bao tử


 
Xem bài viết quan trọng và đầy đủ chi tiết hơn trong link này:  
I-CHỨC NĂNG THỰC QUẢN VÀ BAO TỬ .

A- Giải phẫu thực quản :

1-Mô tả :
Thực quản bắt đầu ở phía sau miệng. Giống như lưỡi, phần trên của thực quản có nhiều vị giác. Từ miệng, nó đi qua khoang của thân chứa trái tim và các mạch ngực khác. Sau đó, nó đi qua cơ hoành, một tấm cơ ngăn cách khoang ngực với khoang bụng. Trong khoang bụng, thực quản kết nối với bao tử. Một mạng lưới các dây thần kinh phân nhánh bắt đầu từ dây thần kinh phế vị và bao phủ thực quản, kiểm soát tim, phổi và đường tiêu hóa.

2. Cơ vòng
Hai vòng cơ bao quanh đỉnh và đáy thực quản.
Các cơ thắt thực quản trên cấu tạo bằng cơ vân và cơ thắt dưới cấu tạo băng cơ trơn.. Chúng chịu trách nhiệm đóng cửa thực quản khi chúng ta không nuốt bất cứ thứ gì. Cơ thắt thực quản dưới hoạt động cùng với cơ hoành để đảm bảo không có acid trong bao tử tràn lên làm hại thực quản.

3. Chức năng 3 cơ co thắt thực quản trên
Gồm 3 cơ và một số cấu trúc – ở phần phía sau của tuyến giáp và thyroid, xương hình móng ngựa ở cổ - tạo thành cơ thắt thực quản trên. Ba cơ bắp là cricopharyngeus, thyropharyngeus và sọ thực quản cổ tử cung. Ba cơ này mỗi cơ có trách nhiệm khác nhau cho phép cơ thắt thực quản trên hoạt động. Chúng nhận tín hiệu đầu vào như một phần của phản xạ nuốt cho phép cơ thắt mở khi cần.

4. Chức năng cơ thắt thực quản dưới
Hai thành phần bên trong và bên ngoài kết hợp với nhau tạo thành cơ thắt thực quản dưới. Phần nội tại bao tử gồm các sợi cơ phản ứng với các phân tử được gọi là neurohormone mang tín hiệu từ não. Thành phần bên ngoài là một cơ hoành kiểm soát áp lực trong cơ thắt dưới. Bất cứ điều gì làm trục trặc hoặc làm gián đoạn việc đóng cơ thắt thực quản dưới đều có thể dẫn đến trào ngược bao tử thực quản và thay đổi niêm mạc thực quản.

5. Chức năng chất nhầy
Một màng nhầy trong thực quản bôi trơn ống cho thức ăn đi qua. Màng này được tạo thành từ biểu mô vảy phân tầng, có nghĩa là nó sở hữu các tế bào dẹt cho phép bài tiết và hấp thu. Màng này cũng có một propria lamina là một lớp mô liên kết mỏng cung cấp hỗ trợ cho biểu mô và liên kết nó với mô bên dưới. Cuối cùng, niêm mạc cơ nằm ngoài propria lamina. Lớp cơ này ở trạng thái chuyển động nhẹ nhàng liên tục giúp màng tiết ra chất nhầy.

6. Chức năng nuốt
Sau khi chúng ta nhai thức ăn, miệng sẽ đưa nó qua hầu họng vào thực quản. Ở đây, các cơn co thắt nhu động của cơ vân đẩy thức ăn xuống dưới. Cơ thắt thực quản trên sau đó thư giãn để cho phép thức ăn đi qua. Ở trung tâm của nó, một sự kết hợp của các cơ vân và cơ trơn phối hợp với nhau để đẩy thức ăn đến cơ thắt thực quản dưới. Cơ thắt thư giãn, cho phép thức ăn vào bao tử. Các cơn co thắt cơ xảy ra như một phản xạ khi cơ thể cảm nhận thức ăn trong miệng và bất kỳ cảm giác nào của thức ăn trong chính thực quản.

7-Các loại thực quản
Các tĩnh mạch trong thực quản có thể bị to ra khi cục máu đông hoặc mô sẹo ngăn chặn lưu lượng máu đến gan. Máu sau đó chảy vào các mạch nhỏ hơn không có khả năng truyền khối lượng máu lớn mà không gặp vấn đề gì. Chúng trở thành giãn tĩnh mạch thực quản và có nguy cơ vỡ, gây chảy máu bên trong đe dọa tính mạng. Giãn tĩnh mạch thực quản xảy ra thường xuyên nhất ở những người bị bệnh gan. Các triệu chứng của giãn tĩnh mạch thực quản bao gồm nôn mửa, phân có máu và chóng mặt. Các triệu chứng của bệnh gan là vàng da và dễ bầm tím.

B-Giải phãu bao tử :


Bao tử là một cơ quan giống như túi lớn hình chữ J có dung tích chứa khoảng 3 ĺit, nằm giữa thực quản và ruột non. Có các chất trợ bao tử trong tiêu hóa và lưu trữ thức ăn. Về mặt giải phẫu,. Bao tử gồm có 5 lớp bao gồm: Thanh mạc, tấm dưới thanh mạc, lớp cơ, tấm dưới niêm mạc, lớp niêm mạc chứa các tuyến của bao tử. Mỗi lớp sẽ giữ một nhiệm vụ riêng, các lớp luôn có sự kết hợp nhịp nhàng với nhau cũng thực hiện các chức năng của bao tử.
Bao tử cũng được liên kết với một mạng lưới bạch huyết rộng lớn. Ung thư đã lan đến các bạch huyết gần đó có tiên lượng xấu hơn. Càng nhiều lớp ung thư xâm lấn vào nhiều lớp thì tiên lượng càng xấu.
Trong cơ thể chúng ta bao tử được chia thành những phần như sau:
1. Tâm vị: Lỗ tâm vị chỉ có một lớp niêm mạc bao tử ngăn cách với phần thực quản của cơ thể.
2. Thân vị: Thân vị là nơi chứa các tuyến tiết ra HCL (Hydrochloric acid) và chất Pepsinogene.hòa với nhau gọi là dịch vị bao tử để phân hủy thức ăn thành chất lỏng (Pepsin là một enzyme phân hủy trực tiếp protein thành các peptide nhỏ hơn, còn gọi là protease, chất này được thoát ra từ các tế bào chính ở thành bao tử),
3. Đáy vị: Phần đáy vị này bình thường được dùng để chứa không khí.
4. Môn vị: Lỗ môn vị có một cơ thắt được gọi là cơ thắt môn vị.

C-Chức năng hệ tiêu hóa

Chức năng của bao tử trong cơ thể đó là:
Nghiền nát cơ học thức ăn được đưa vào cơ thể và thấm dịch vị lên thức ăn đã được nghiền nát.
Dùng enzyme tiêu hóa trong dịch vị để phân hủy thức ăn.
Để giúp bao tử phân hóa thức ăn thành chất bổ nhanh, cần phài thử đường huyết sau khi ăn 30 phút phải nằm trong tiêu chuẩn no tử 8-10mmol/l, thiếu thì uống thêm đường cát vàng hay nước mía, sau đó tập bài Kéo Ép Gối để chuyển hóa thức ăn trong bao tử thành chất lỏng.
Hạn chế ăn những thực phẩm có hại cho bao tử như đồ ăn sẵn, đồ ăn chiên rán nhiều dầu mỡ, đồ ăn đã qua tinh chế, đồ ăn đóng gói. Không ăn quá nhiều thực phẩm cay nóng, không ăn đồ chua lúc bụng còn đang đói, giảm bớt những thực phẩm khó tiêu.
Mọi người cần ăn uống đúng giờ, không nên ăn quá no và cũng không để bụng quá đói rồi ăn quá nhiều một lúc để bù lại sẽ khiến bao tử dễ bị tổn thương làm cho chức năng của bao tử bị giảm sút. Cần nghỉ ngơi đúng giờ giấc, không nên thức quá khuya sẽ khiến bao tử bị tổn hại do không có thời gian nghỉ ngơi và phục hồi và quan trọng hãy nhớ không nên ăn uống trước khi đi ngủ sẽ khiến bao tử phải làm việc quá sức.
Chức năng của bao tử rất quan trọng trong hệ tiêu hóa, nếu bao tử bị hư hại sẽ sinh ra rất nhiều bệnh tật nguy hiểm cho cơ thể do vậy mọi người hãy luôn chú ý bảo vệ bao tử.

Hệ thống tiêu hóa, (GI=Gastro-Intestinal) bao gồm các cơ quan của hệ tiêu hóa như miệng, thực quản, bao tử, ruột non, ruột già, trực tràng và hậu môn. Nó cũng chứa các cơ quan của hệ thống mật, tuyến tụy, gan, túi mật và ống mật. Tất cả các cơ quan này làm việc cùng nhau để tiêu hóa và chuyển hóa thức ăn, loại bỏ độc tố và duy trì cân bằng chất lỏng.

Bao tử có nhiệm vụ phá vỡ thức ăn thành dạng lỏng và truyền đến ruột non. Nó cũng hấp thụ hoặc phá vỡ một số chất dinh dưỡng và thuốc. Các bệnh liên quan đến bao tử là ợ nóng, loét, viêm bao tử, một số bệnh ung thư và rối loạn vận động bao tử, còn được gọi là rối loạn vận động đường tiêu hóa, chẳng hạn như IBS (Irritable Bowel Syndrome Hội chứng gây kích thích bụng) và viêm bao tử.

Ruột bao gồm ruột non và ruột già, chịu trách nhiệm phá vỡ thức ăn thành những phần nhỏ hơn và hấp thụ các chất dinh dưỡng để mang lại lợi ích cho cơ thể. Chúng cũng bài tiết chất thải và duy trì cân bằng chất lỏng.

II-NGUYÊN NHÂN UNG THƯ THỰC QUẢN VÀ BAO TỬ :

Do nhiều nguyên nhân sau đây :

1-Trào ngược bao tử thực quản.
Bệnh trào ngược bao tử thực quản (GERD=Gastro-esophageal reflux disease) do trào ngược thức ăn bao gồm cả acid bao tử lên thực quản gây ra.
Bao tử tạo ra một hỗn hợp acid mạnh cho phép nó tiêu hóa thức ăn. Đây là acid bao tử. Cơ thắt thực quản dưới giúp đảm bảo giữ cho acid trong bao tử không đi ngược lên thực quản và làm sẹo. Sẹo có thể dẫn đến co thắt ống và khó nuốt. Nếu điều này xảy ra thường xuyên. Những người mắc bệnh này thường xuyên bị ợ nóng và đau ngực, ho, khó nuốt.
Bất kỳ phần nào của thực quản đều có thể trở thành ung thư, thông thường là lớp tế bào lót
Hai loại phổ biến nhất là ung thư tuyến, bắt đầu trong các tuyến tiết chất nhầy và ung thư biểu mô tế bào vảy, bắt đầu trong các tế bào dẹt của thực quản.

2-Các yếu tố nguy cơ gây ung thư thực quản

Thực quản Barrett là trạng thái tiền ung thư của thực quản thường xuyên nhất. Đó không phải là ung thư, nhưng đôi khi nó có thể biến thành ung thư thực quản nếu không được điều trị.
Trong các trường hợp cực xấu của bệnh trào ngược bao tử thực quản, mô tương tự như niêm mạc ruột thay thế các mô thường có trong miệng và thực quản. Đây là một điều kiện chuyên gia gọi là thực quản Barrett. Những người mắc bệnh này có nguy cơ mắc ung thư thực quản cao hơn. Ngoài ra, họ chỉ gặp các triệu chứng tương tự như bệnh trào ngược bao tử thực quản. Có những trường hợp những người không mắc bệnh trào ngược hoặc rối loạn phát triển thực quản Barrett,

Điều quan trọng khoa học chứng minh, có bằng chứng mạnh mẽ rằng : Không liên quan đến ung thư thực quản nếu chúng ta uống nước ngọt. điều đo chứng tỏ rằng cơ thể đủ đường huyết thì không bị ung thư.



III-UNG THƯ BAO TỬ CÁC LOẠI

A-Dưới đây là nguyên nhân một số loại ung thư bao tử phổ biến và không phổ biến:

Hai yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến sự sống còn đối với bệnh nhân ung thư bao tử là độ sâu xâm lấn qua thành bao tử và số lượng hạch bạch huyết liên quan.

1-Ung thư tuyến bao tử
Ung thư bao tử phổ biến nhất. Nó thường được chia thành hai loại phụ : ruột và khuếch tán. Ung thư biểu mô tuyến thường phát triển ở các bộ phận của bao tử gần ruột hơn. Ung thư biểu mô tuyến thường gặp ở bệnh nhân trẻ tuổi, người già trên 80 tuổi và những người có nhóm máu A.

2-Khối u mô đệm đường tiêu hóa (GIST)
Bệnh lý u mô đệm đường tiêu hóa hay còn gọi là GIST làtên viết tắt của Gastrointestinal Stromal Tumor, là một loại sarcoma. ...GIST được nghi ngờ và phát hiện dựa trên các triệu chứng như thiếu máu, đau bụng thậm chí có thể gặp khối u GIST hoại tử gây loét dẫn đến có máu trong phân, nôn ra máu hoặc thiếu máu.
Không phổ biến. Phát sinh từ các tế bào Cajal (tên nhà bác học người Tây Ban Nha nghiên cứu chức năng thần kinh co thắt) điều chỉnh các cơn co thắt ruột.

3-Ung thư biểu mô đường tiêu hóa. ( Leiomyosarcoma )
Không phổ biến. Hiếm khi lan đến các hạch bạch huyết. Phát sinh từ các tế bào cơ trơn trong niêm mạc cơ hoặc lớp đệm của niêm mạc bao tử.

4-Ung thư bất thường đường tiêu hóa. (Carcinoid )
Không phổ biến. Phát sinh từ niêm mạc trong cơ thể bao tử và đáy. Khả năng di căn hạn chế.

5-Ung thư từ tế bào bạch cầu đường tiêu hóa. (U lympho)
Không phổ biến. Thường xẩy ra trong bao tử, nhưng có thể bắt đầu ở bất kỳ phần nào của đường tiêu hóa.

6-Ung thư bao tử:
Yếu tố nguy cơ, ảnh hưởng đến triển ung thư bao tử như:
Nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori, chế độ ăn. thiếu máu ác tính, bệnh Menetrier, nhóm máu A, nhiễm Epstein-Barr, một số polyp bao tử.

7-Nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori

Helicobacter pylori gọi tắt là bệnh Hp là một trong những bệnh nhiễm khuẩn phổ biến nhất trên toàn thế giới. Nó gây ra loét tá tràng và bao tử cũng như viêm bao tử mãn tính. H. pylori làm tăng đáng kể nguy cơ phát triển ung thư tuyến bao tử. Tổ chức Y tế Thế giới phân loại H. pylori là chất gây ung thư loại I. Nó được tìm thấy trong bao tử của hơn một nửa dân số thế giới. Các vi khuẩn sống trong niêm mạc bao tử và có thể gây viêm mãn tính (viêm bao tử). Tình trạng viêm này có thể dẫn đến tổn thương DNA thúc đẩy sự phát triển ung thư. H. pylori có liên quan đến hơn 70% ung thư biểu mô bao tử.

Nhiễm khuẩn Helicobacter pylori là nguyên nhân của đa số các loại ung thư bao tử, còn các bệnh viêm bao tử teo màng lót do tự miễn, dị sản ruột (intestinal metaplasia, tế bào ruột sinh sản bất thường) và nguyên nhân di truyền là các yếu tố tăng nguy cơ gây bệnh.

HP là vi khuẩn gây nên viêm loét ở bao tử dẫn tới bệnh ung thư trong khi loại vi khuẩn này lại rất dễ lây lan qua việc ăn uống chung bát, đũa, cốc, chén... Diệt trừ nhiễm trùng là cách tốt nhất để ngăn ngừa ung thư bao tử. Một sự kết hợp của kháng sinh, thuốc ức chế acid bao tử và bảo vệ bao tử có thể được sử dụng.

8-Chế độ ăn

Sự gia tăng chất xơ, tiêu thụ rau quả thô có liên quan đến việc giảm đáng kể nguy cơ ung thư bao tử. Tiêu thụ nitrat, carbohydrate tinh chế (bánh mì trắng, gạo trắng, ngũ cốc có đường âm, đường cát trắng, trái cây có nhiều acid v.v.) và thực phẩm nhiều muối hoặc ngâm giấm được nghi ngờ làm tăng nguy cơ ung thư bao tử. Chế độ ăn mặn, nhiều muối, đặc biệt là các món như dưa cà muối, các loại thức ăn nhanh, thức ăn chế biến sẵn khiến lượng muối đưa vào cơ thể quá nhiều, gây quá tải cho hệ tiêu hóa. Ngoài việc tăng nguy cơ mắc các bệnh về tim mạch, huyết áp, ăn mặn còn gia tăng nguy cơ mắc ung thư bao tử do muối thúc đẩy hoạt động của vi khuẩn HP, loại vi khuẩn gây viêm loét niêm mạc bao tử.
Thói quen ăn quá nhanh cũng khiến bao tử bị tổn thương nghiêm trọng do thức ăn không được nhai kỹ, các enzyme trong nước bọt chưa kịp được tiết ra để bôi trơn và phân hủy thức ăn trước khi được đưa xuống bao tử. Do đó, bao tử cũng không kịp tiết ra lượng dịch vị đầy đủ để kịp tiêu hóa chúng khiến thức ăn ứ đọng, bao tử hoạt động quá tải gây trào ngược acid, viêm loét và lâu dần dẫn đến ung thư bao tử.

9. Uống rượu bia
Uống nhiều rượu bia cũng là nguyên nhân khá phổ biến gây ung thư bao tử qua con đường làm tổn thương gan. Khả năng gây ung thư của rượu bia do tính chất cộng dồn các yếu tố gây ung thư.

10. Người bị viêm bao tử mạn tính
Những người bị viêm bao tử mãn tính nếu không chữa trị kịp thời thì có nguy cơ rất cao mắc bệnh ung thư bao tử do các vết viêm, loét ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn.

11. Thiếu máu ác tính
Theo khảo sát của các chuyên gia y tế, thiếu máu ác tính cũng là một nguyên nhân lớn gây nên ung thư bao tử.
Thiếu máu là tình trạng xảy ra khi số lượng tế bào hồng cầu thấp (RBCs) hơn bình thường. Thiếu máu ác tính là một trong những loại thiếu máu thiếu hụt vitamin B12, nguyên nhân do cơ thể không có khả năng hấp thụ vitamin B12 cần thiết để tạo ra đủ các tế bào hồng cầu khỏe mạnh.
Loại bệnh thiếu máu này được gọi là “ác tính” bởi vì đây từng là một căn bệnh chết người do thiếu các biện pháp điều trị sẵn có. Tuy nhiên, ngày nay, căn bệnh này tương đối dễ điều trị bằng cách tiêm hoặc bổ sung B12. Mặc dù vậy, nếu không được điều trị, thiếu vitamin B12 có thể dẫn đến một số biến chứng nghiêm trọng.
Dấu hiệu thiếu máu ác tính :
Các triệu chứng thông thường bị bỏ qua bao gồm:
Yếu ớt; nhức đầu; tức ngực; giảm cân.
Bệnh nặng hơn như đi lại không vững; chứng liệt co cứng; bệnh thần kinh ngoại vi, tê ở cánh tay và chân; tổn thương tiến triển của tủy sống; mất trí nhớ.
Buồn nôn và ói mửa; nhầm lẫn, phiền muộn, táo bón, ăn mất ngon, ợ nóng

12. Do nhóm máu
Theo nhiều nghiên cứu, nhóm máu cũng là nguyên nhân gia tăng nguy cơ mắc một số bệnh. Riêng đối với bệnh ung thư bao tử nói riêng và các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa nói chung thì nhóm máu O có nguy cơ cao nhất, cao hơn các nhóm máu khác đến hơn 30%. Nguyên nhân là do cấu tạo màng tế bào nhóm O hấp dẫn vi khuẩn Helicobacter gây tổn thương cho bao tử.
13. Hút thuốc lá
Có thể nhiều người không biết rằng hút thuốc lá lại làm tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư bao tử. Lý do là trong thuốc lá chứa hàm lượng lớn nicotin. Đây là chất độc phá hủy hệ hô hấp cũng như hệ tiêu hóa. Khi người bệnh hít khói thuốc, chất cortisol được sản sinh ra nhiều hơn gây viêm loét nặng hơn, niêm mạc bao tử bị suy yếu đi.
Hút thuốc lá làm lưu lượng máu đến các cơ quan trong cơ thể cũng như bao tử chậm hơn, ngăn cản quá trình tiết chất nhầy của bao tử. Thuốc lá đồng thời cũng làm giảm đáng kể tác dụng điều trị của các loại thuốc chữa viêm loét bao tử cũng như ung thư bao tử.
14. Môi trường sống ô nhiễm
Môi trường sống ô nhiễm, nhiều khói bụi cũng là một nguyên nhân làm gia tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư bao tử.

B-Triệu chứng viêm bao tử :

Mười triệu chứng viêm bao tử ruột (Gastroenteritis).

1. Mệt mỏi
Nhiều người bị viêm bao tử ruột bị mệt mỏi hoặc thiếu năng lượng nói chung. Điều làm cho sự mệt mỏi đặc biệt là suy nhược triệu chứng này xảy ra do cơ thể đang sử dụng nhiều năng lượng để chống lại nhiễm trùng.

2. Sốt
Một số người bị viêm bao tử ruột bị sốt, của cơ thể để loại bỏ nhiễm trùng. Mặc dù sốt có thể là một dấu hiệu cho thấy cơ thể đang làm việc, nhưng nếu nhiệt độ trên 102 độ F= 38,9 độ C kéo dài hơn bốn ngày, cần phải có sự chăm sóc y tế. Sốt cũng có thể dẫn đến ớn lạnh.

3. Đau đầu vùng trán
Đối với tây y, bệnh đau đầu là do viêm bao tử ruột, không liên quan trực tiếp đến bao tử, và cho là do sự mất cân bằng hóa học trong não do virus gây ra, thì có thể dùng thuốc giảm đau. Nhưng theo đông y vị trị đau đầu trước trán là do bao tử hàn, ăn không tiêu nguyên nhân do thiếu đường giúp cơ bao tử co bóp chuyển hóa thức ăn, Đau đầu từ sau đầu lên đỉnh đầu do chức năng gan, nguyên nhân do áp suất của gan cao, hay áp huyết đo bên tay phải cao, đau nửa đầu một bên gọi là thiên đầu thống do chức năng túi mật và tam tiêu, đau đều trên giữa trán lên đỉnh đầu do viêm xoang...

4. Đau cơ
Đau ở cơ là một trong những triệu chứng phổ biến nhất của viêm bao tử ruột do nhiễm trùng, do virus có thể gây ra triệu chứng này.

5.Đau bụng
Đau bụng là một triệu chứng phổ biến và dễ hiểu của viêm bao tử ruột. Các cơ trong thành của ruột non co lại trong nỗ lực xua đuổi nhiễm trùng, dẫn đến đau ở vùng này.

6. Buồn nôn và nôn
Nôn và buồn nôn đi đôi với nhau và là một trong những dấu hiệu mạnh nhất của tình trạng liên quan đến bao tử. Nôn, giống như sốt, là một phản ứng tự nhiên đối với sự hiện diện của nhiễm trùng.

7.Tiêu chảy
Tiêu chảy có thể là một dấu hiệu nguy hiểm của viêm bao tử ruột vì nó có thể dẫn đến mất nước, loại bỏ các ion quan trọng như natri và clorua mà cơ thể cần để hoạt động hiệu quả. Uống nước điện giải hay dung dịch đường-muối vừa bổ sung nước vừa cầm tiêu chảy.

8. Phân đẫm máu
Máu càng sẫm màu là máu đã đi từ ruột kết hoặc ruột non bên trong, máu đỏ nhạt cho thấy chảy máu quanh hậu môn,.

9. Mất nước
Dấu hiệu mất nước bao gồm chóng mặt, đỏ mắt, khô da và mệt mỏi. Điều quan trọng là luôn tiêu thụ đủ chất lỏng trong suốt cả ngày và thậm chí còn quan trọng hơn khi cơ thể chống lại nhiễm virus.

10. Đi tiểu giảm
Khi cơ thể trở nên thiếu chất lỏng, việc đi tiểu ít hơn là điều bình thường. Đây là một lý do khác để uống nhiều nước và các chất lỏng lành mạnh khác khi bị viêm bao tử ruột. Thận cần một lượng nước dồi dào để làm sạch máu hiệu quả. Thiếu nước có thể dẫn đến suy thận.

C-Ung thư bao tử:
1-Ung thư bao tử giai đoạn đầu
Thường có ít triệu chứng, nhưng các triệu chứng chung sau đây có thể xảy ra gần giống như triệu chứng viêm bao tử và ruột.
Khó tiêu, khó chịu ở bao tử hoặc ợ nóng. buồn nôn hoặc chán ăn, cảm thấy mệt.

Ung thư bao tử giai đoạn cuối có liên quan đến các triệu chứng sau:

Máu trong phân hoặc phân có màu đen. một cảm giác đầy hơi sau khi ăn, ngay cả khi ăn một lượng nhỏ
Nôn sau bữa ăn, giảm cân ngoài ý muốn, đau bao tử, nhất là sau bữa ăn, yếu và mệt mỏi.

1-Bốn giai đoạn ung thư bao tử .

Khi bệnh đã diễn biến đến giai đoạn 4 thì có thể lan qua gan, tụy, hạch bạch huyết và các cơ quan khác, tiên lượng rất xấu.
Theo các bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa, ung thư bao tử sớm, phương pháp tốt nhất để phát hiện ung thư bao tử giai đoạn sớm là tiến hành nội soi, khi tổn thương chỉ nằm ở lớp niêm mạc chưa xâm lấn vào lớp dưới. có nghĩa là chưa có di căn nơi khác vì lớp niêm mạc không có mạch máu và cũng chưa xâm lấn sang các cơ quan trong ổ bụng cũng như di căn hạch. Vì vậy, chỉ cần lấy toàn bộ phần ung thư là khỏi bệnh


Không giống ung thư ở giai đoạn muộn, ung thư bao tử sớm không có biểu hiện triệu chứng, thường phát hiện được tình cờ khi nội soi. Khi có biểu hiện triệu chứng như đau bụng, chán ăn, đầy bụng, xuất huyết tiêu hóa như nôn ra máu hoặc đại tiện phân đen là khi ung thư đã ở giai đoạn muộn.
Các nhà khoa học đã chỉ rõ, ung thư bao tử nếu phát hiện ở giai đoạn muộn thì tỉ lệ sống sau 5 năm chỉ còn dưới 10%; trong khi tỷ lệ này ở giai đoạn sớm là 97,1 - 100%. Cũng tỷ lệ này sau 5 năm bệnh nhân vẫn còn sống khỏe mạnh mà không phải điều trị hóa chất hoặc các phương pháp gì khác sau cắt tách dưới niêm mạc bao tử qua nội soi.

Ung thư bao tử được phát hiện giai đoạn muộn phải cắt một phần hay toàn bộ bao tử, sau 5 ngày bệnh nhân đã có thể uống và ăn trở lại. Sau phẫu thuật 10-14 ngày, bệnh nhân có thể ra viện.và sau đó phải điều trị hóa chất toàn thân, làm chất lượng cuộc sống người bệnh bị giảm đáng kể. Thậm chí, với những bệnh nhân được phát hiện muộn, ở giai đoạn cuối thì tỷ lệ sống sót trong 5 năm là rất thấp, tỷ lệ sống sót trên 1 năm cũng không cao.

Những trường hợp ung thư giai đoạn cuối có thể: Phẫu thuật tạm thời, nhằm lập lại lưu thông của đường tiêu hóa, kéo dài cuộc sống cho người bệnh.

Hóa chất trị liệu:
Đây là phương pháp điều trị bằng các thuốc chống ung thư đặc biệt. Các thuốc này thường được dùng phối hợp với nhau trong một tuần, sau đó nghỉ thuốc 2 hoặc 3 tuần rồi lại dùng tiếp. Nếu ung thư ở giai đoạn sớm, hóa trị liệu dùng để hỗ trợ cho phẫu thuật, tia xạ hoặc cả hai, nhằm mục đích tiêu diệt các tế bào ung thư còn sót lại trong cơ thể để tránh tái phát ung thư bao tử sau này.
Hóa trị liệu sẽ có một số tác dụng phụ nhưng các tác dụng phụ này là tạm thời và có thể làm giảm được.

Điều trị bằng tia xạ:
Biện pháp này dùng các tia phóng xạ để diệt các tế bào ung thư. Các tia phóng xạ này được tính toán chính xác trên vị trí của ung thư để giảm tác hại đối với các mô lành. Trong ung thư bao tử, điều trị bằng tia xạ sau phẫu thuật để tiêu diệt các tế bào ung thư còn sót lại. Điều trị bằng tia xạ có thể được dùng cùng với hóa chất trị liệu để làm nhỏ khối u và làm giảm các triệu chứng.
Bệnh ung thư bao tử là một căn bệnh nguy hiểm về đường tiêu hóa và có tỷ lệ mắc bệnh khá cao. Phần lớn những người mắc phải căn bệnh này đều không được chữa khỏi do những biểu hiện bệnh ung thư bao tử ở giai đoạn đầu khá mơ hồ khiến cho bệnh nhân không thể phát hiện ra bệnh. Chính vì tầm nguy hiểm của căn bệnh này mà các phương thuốc điều trị bệnh ung thư bao tử được nhiều người quan tâm.


2-Bẩy dấu hiệu giúp bạn nhận biết sớm về bệnh ung thư bao tử

a- Biểu hiện đầu tiên của bệnh này là cảm giác đầy tức vùng trên rốn, kèm mệt mỏi. Khoảng 1/2 trường hợp có sụt cân và đau vùng trên rốn.
Lúc đầu, triệu chứng đau rất giống với trong loét bao tử (đau liên quan tới bữa ăn, giảm khi dùng các thuốc điều trị loét). Chính vì vậy, bệnh nhân thường chủ quan, xem nhẹ bệnh và chỉ đi khám khi đã quá muộn.

b- Đau bụng trên.
Bắt đầu với những cơn đau từng đợt, sau đó là thường xuyên và nặng hơn. Tuy có thể chịu được những luôn dai dẳng, lúc đau lúc không.
Không những thế người đau bao tử mãn tính còn thấy xuất hiện những cơn đau bất thường, không theo quy luật.
Nếu như trước kia những cơn đau thường xuất hiện theo quy luật như đói cũng đau, no cũng đau thì nay, thấy đau bất cứ lúc nào, không theo quy luật nào thì đó có thể là dấu hiệu bệnh đã phát triển thành ung thư bao tử.

c- Luôn bị ợ chua, tiêu hóa không tốt.
Đây là một trong những biểu hiện đầu tiên của bệnh ung thư bao tử. Biểu hiện này chiếm khoảng 68% số người mắc bệnh.
Bên cạnh đấy còn không có hứng ăn uống, ăn mất ngon. Người bệnh cảm thấy hơi thở luôn nóng, không muốn ăn, ngay cả những món yêu thích hay khi đổi món, ghét ăn thịt, nhất là thịt mỡ.

d- Nôn ra máu.
Theo Viện Y tế Quốc gia Mỹ, nếu trong chất nôn có lẫn máu thì cũng nên suy xét đến khả năng ung thư bao tử.

e- Đầy bụng sau khi ăn.
Đây cũng là biểu hiện thường thấy ở người ung thư bao tử. Khi ăn xong có cảm giác tức bụng, đầy bụng và buồn nôn...

f- Có những trường hợp đi ngoài ra phân đen do ăn nhiều tiết động vật như lợn, dê, gà cũng có thể gặp hiện tượng này hay do sau khi uống một số loại thuốc.
Nhưng nếu bệnh nhân viêm loét bao tử xuất hiện triệu chứng đi ngoài phân đen hoặc kiểm tra trong phân thường xuyên có máu. Đây thường là triệu chứng của chuyển biến thành ung thư bao tử.

g- Một số bệnh nhân viêm loét bao tử còn có thể sờ thấy bọc u trong ổ bao tử, biểu hiện của nó là cứng, bề mặt không trơn nhẵn, hơn nữa khối u còn nhanh chóng tăng to lên, ấn vào có cảm giác đau.
Theo sự tăng lên của kích thước khối u, cảm giác buồn nôn cũng ngày càng nghiêm trọng, trong trường hợp này đa số là đã chuyển ung thư.

Ngoài những triêu chứng thường gặp trên, còn có một số trường hợp cũng có các biểu hiện khác thường gặp như: người bệnh hay bị viêm tắc tĩnh mạch, ngoài da có nổi nốt đen, màu da xẫm lại, viêm cơ, viêm da… thậm chí người bệnh còn có thể sờ hoặc cảm nhận được khối u...
Chính vì vậy ngoài việc kiểm tra sức khoẻ thường xuyên chúng ta cần phải để ý việc sinh hoạt hằng ngày để phát hiện sớm các dấu hiệu thường gặp của bệnh ung thư bao tử.

3-Căn bệnh có nguy cơ trở thành ung thư bao tử chúng ta cần phải biết để phòng ngừa .

Polyp bao tử, còn gọi là khối u bao tử, là khối tế bào hình thành bên trong lớp lót bao tử.
Hầu hết khối u bao tử không có nguy cơ trở thành ung thư, tuy nhiên, vẫn có một số loại có thể làm tăng nguy cơ ung thư bao tử.
Triệu chứng polyp bao tử:
Những khối polyp bao tử thường không có triệu chứng cụ thể. Phần lớn chúng được phát hiện ra một cách tình cờ do bác sĩ thăm khám một căn bệnh nào đó. Những triệu chứng có thể sẽ gặp khi có polyp bao tử sẽ là:
- Đau bụng hoặc cảm thấy đau khi bấm vào bụng.
- Chảy máu

4- Loại khối u bao tử nào nguy hiểm?
Các loại khối u bao tử phổ biến sẽ là:
- Tăng sản polyp: Là một phản ứng mãn tính ở các tế bào bên trong lớp lót của bao tử. Loại khối u này thường gặp ở người viêm bao tử.
Nguy cơ trở thành ung thư của khối u tăng sản là rất nhỏ, nhưng những khối u có đường kính lớn khoảng 2cm trở lên thì có nguy cơ trở thành ung thư.
- Fundic polyp tuyến:hay gọi là khối u tuyến đáy vị Được hình thành từ các tế bào tuyến bên trong lớp lót bên trong bao tử. Loại khối u này không có khả năng trở thành ung thư bao tử ngoại trừ trường hợp xuất hiện ở người có sẵn hội chứng ung thư ruột kết.
- U tuyến: Được hình thành từ các tế bào tuyến bên trong lớp lót của bao tử.
Khi các u tuyến hình thành, các tế bào phát triển các lỗi trong DNA làm cho các tế bào dễ bị tổn thương mà phát triển thành ung thư.
U tuyến lại là loại của polyp bao tử có nhiều khả năng nhất để trở thành ung thư bao tử.

Một số các yếu tố khác cũng có thể liên quan tới ung thư bao tử như bệnh tiểu đường, thiếu máu ác tính, hội chứng suy giảm miễn dịch mắc phải (AIDS), bệnh viêm teo niêm mạc bao tử…

Phát hiện ung thư bao tử qua hơi thở
Theo tạp chí Ung thư Vương Quốc Anh, phép thử có độ chính xác tới 90% và sẽ là một cuộc cách mạng trong việc chẩn đoán và chữa trị ung thư bao tử.
Hiện nay các bác sĩ chẩn đoán loại ung thư này bằng cách lấy sinh thiết bao tử qua một đầu dò có camera linh hoạt thông qua miệng xuống thực quản.
Nhưng với phép thử qua hơi thở, các thành phần hóa học đặc trưng trong những bao tử mắc ung thư sẽ được phát hiện dễ dàng và nhanh chóng hơn.
Giáo sư Hossam Haick viện Nghiên cứu Công nghệ Israel người đứng đầu nhóm nghiên cứu đã làm thí nghiệm với 37 bệnh nhân mắc ung thư, 32 người mắc chứng loét bao tử và 61 người có những vấn đề khác về bao tử.
Qua hơi thở, các bác sĩ không những đã phát hiện sự phân hóa giữa những bệnh nhân ung thư với số còn lại, mà còn chẩn đoán mức độ nặng nhẹ của ung thư. Phép thử mới này cũng chính xác trên chó.
80% bệnh nhân khi phát hiện ung thư bao tử đang ở giai đoạn không thể phẫu thuật. 2/5 số bệnh nhân có thể tiếp tục sống ít nhất 1 năm nhưng chỉ có 1/5 kéo dài sự sống tới 5 năm. Vì vậy thành công này sẽ là bước tiến lớn tạo thêm nhiều cơ hội sống đối với các bệnh nhân ung thư.

5-Thực phẩm quen thuộc có thể gây ung thư bao tử

Cơm thừa
Việc hâm nóng cơm nguội lại để ăn là thói quen của rất nhiều người. Phần vì sự tiện lợi, phần vì tiết kiệm nên không nỡ bỏ đi mà vẫn “tái sử dụng” món cơm thừa vào ngày hôm sau.
Cơm nguội khi được hâm nóng lên rất khó để tiêu hóa. Tinh bột chứa trong cơm khi được đun nóng từ 600C trở lên thì sẽ bị chuyển hóa thành bột hồ. Bột hồ làm chậm quá trình tiêu hóa, ảnh hưởng lớn đến bao tử.
Thường xuyên ăn món cơm nguội hâm nóng này sẽ làm tăng nguy cơ ung thư bao tử so với những người không thường xuyên ăn món ăn này.

Thực phẩm chiên, rán
Chứa nhiều chất độc hại nếu được dùng với dầu mỡ đã dùng chiên, rán nhiều lần. Đồng thời những thực phẩm khô cứng này có tỷ lệ gây tổn thương lớn cho bao tử.
Khi ăn nhanh, nhai không kỹ, thức ăn đi xuống bao tử có thể sẽ gây xước, tổn thương, gây viêm loét. Lâu ngày tích tụ lại sẽ dễ bị biến chứng thành ung thư bao tử.

Socola
Chất theobromine chứa trong socola có thể làm lỏng cơ co khít ở thực quản, khiến dịch vị dễ bị trào ngược lên thực quản. Sự bất thường này, thường xuyên xảy ra với những người hay ăn socola và họ là nhóm đối tượng có nguy cơ mắc ung thư bao tử cao.

Ớt cay
Bình thường chất cay trong ớt sẽ giúp hệ tiêu hóa tốt hơn. Tuy nhiên, cần phải cảnh giác với một alcaloit có vị rất cay và nóng, nó sẽ khiến bệnh đau bao tử nặng thêm.
Những người bị viêm loét dạ dạy, nếu có sở thích và thói quen ăn ớt thì sẽ tăng nguy cơ mắc ung thư bao tử cao.
Với những người bình thường cũng vậy, nếu lạm dụng ớt thì khả năng mắc bệnh đau bao tử sẽ cao hơn những người ít ăn ớt.

IV-CÁCH NGỪA UNG THƯ BAO TỬ ĐỪNG QUÊN CÀ TÍM

Các chuyên gia Nhật Bản đã phát hiện thấy trong cà tím có chứa nhiều thành phần hoạt chất có khả năng ngăn ngừa ung thư, nhất là ung thư bao tử.

Đông y gọi chung các loại cà là Giã tử, Ái qua, Nuy qua, tên khoa học là Solanum milogena L thuộc họ cà (Solanaceae). Theo đông y thì cà có vị ngọt tính hàn (có tài liệu ghi là cực hàn và có độc).
Sách “Trung dược học bản thảo” cho biết cà có tác dụng hoạt lợi (nhuận trường), lợi tiểu, trị thũng, thấp độc, trừ hòn cục trong bụng (Chưng hà), chứng lao truyền, ôn bệnh trong bốn mùa (Phong, hàn, thử, thấp, táo, hỏa). Tán huyết tiêu viêm, chỉ thống...
Còn trong “Thực liệu bản thảo” có nói cà có tác dụng chữa ngũ tạng lao tổn. Trong sách “Thực kinh” viết: Cà có tác dụng làm đầy da thịt, ích khí lực, chữa cước khí... cùng nhiều chứng bệnh.
Y học hiện đại cũng xác nhận rằng cà cũng giàu dinh dưỡng. Riêng với giống cà tím (cà dái dê) ở phương tây người ta cũng đã nghiên cứu nhiều và được xếp vào nhóm rau quả đứng hàng đầu với hàm lượng vitamin PP cao nhất.
Có tài liệu nói vitamin PP chứa trong cà tím là 72g. Đặc biệt hơn ở cà còn chứa chất Nightshade soda có tác dụng chống ung thư, ức chế sự tăng sinh của khối u trong bộ máy tiêu hóa.
Ngay ở cả Nhật Bản các chuyên gia cũng đã khuyên nên sử dụng nước ép cà tím khi người bệnh đang dùng xạ trị và cả ngay sau khi phẫu thuật ung thư...
Như vậy thật sự cà còn là một vị thuốc hay được sử dụng chữa trị nhiều bệnh từ lâu đời ở nước ta cũng như nhiều nước trên thế giới. Dưới đây xin giới thiệu những phương thuốc trị bệnh từ cà để cùng tham khảo và có thể áp dụng khi cần.

*Chữa phụ nữ huyết hư, da vàng: Lấy quả cà pháo già bổ ra phơi khô trong bóng râm cho đến khô, rồi tán bột mịn, ngày uống 2 lần, mỗi lần 8g chiêu với rượu hâm nóng. Cần uống liền dài ngày.

*Chữa đại, tiểu tiện, đường tiêu hóa ra máu: Lấy quả cà pháo già sao vàng, tán bột mịn, ngày uống 3 lần, mỗi lần uống 8g hòa với dấm pha loãng để uống.

*Chữa đàm nhiệt, viêm phế quản cấp, táo bón: Lấy cà tím 500g đem thái dọc, gừng tươi 4 lát, tỏi 3 củ nghiền nhuyễn. Sau trộn với nước tương, dầu, muối, đường chưng cách thủy. Ăn hết trong ngày. Mỗi ngày ăn 1 lần, cần ăn 5 – 7 ngày liền.

*Chữa ho lâu năm không khỏi: Cà pháo tươi 30 – 60g, nấu chín cho mật ong vào vừa đủ rồi nấu lại là được. Ngày ăn 2 lần (theo “Ẩm thực phương đông trị bệnh” của Hồng Minh Viễn năm 1998 của Trung Quốc).

*Chữa hoàng đản (chứng viêm gan vàng da): Lấy cà tím thái miếng, trộn lẫn gạo nấu thành cơm ăn trong 5 ngày đến 1 tuần.

*Chữa chứng đau bụng ở nữ (theo tạp chí “Tropical doctor” tháng 4 năm 1982): Lấy quả cà khô và quả me chín, cả hai thứ có lượng bằng nhau. Cho vào 1.000ml nước (1 lít) rồi đun sau 30 phút lọc lấy nước chia ra vài lần uống nóng.
Ngoài ra ở Nigeria người dâncòn có kinh nghiệm sử dụng quả cà tím (cà dái dê) để chữa trị chứng phong thấp. Cà tím còn được sử dụng làm thuốc đánh trắng răng, chữa hôi miệng. Ở Nam Hàn người ta còn sử dụng cà tím phơi khô làm thuốc giảm đau, trị sưng khớp, loét bao tử..


Hiện nay, sản phẩm US-Procells được các chuyên gia đầu ngành đánh giá cao đồng thời sản phẩm đang được rất nhiều bệnh nhân ung thư tin tưởng sử dụng bởi hiệu quả tích cực mà nó mang lại. Là thành quả của hợp tác nghiên cứu, sản xuất giữa Công ty CP Dược phẩm Quốc tế Á Châu và US Pharma USA với công nghệ và dây chuyền sản xuất hiện đại từ Mỹ. US-Procells có thành phần hoàn toàn từ thảo dược tự nhiên như Tỏi đen, linh chi, sói rừng, xạ đen, phylamin, sơn đậu căn, bán chi liên… Là những dược liệu quý có tác dụng tiêu diệt, ngăn ngừa sự hình thành và phát triển tế bào ung thư, đồng thời giúp tăng cường sức đề kháng, giảm mệt mỏi, thanh nhiệt, đào thải độc tố do hóa trị và xạ trị, kích thích cảm giác thèm ăn… nâng cao thể trạng cho người bệnh. Nhờ đó, bệnh nhân có được sức khỏe tốt nhất để “đương đầu” với các đợt điều trị, đồng thời đem lại hiệu quả tối đa cho các phương pháp.
Ở mỗi biện pháp điều trị được cho là tân tiến nhất hiện nay đều còn tồn tại những mặt hạn chế, mặc dù đã rất lâu nhưng tiến bộ y khoa vẫn chưa thể khắc phục được. Phẫu thuật và xạ trị có thể diệt gọn khối u, nhưng vẫn còn những hạch ung thư nhỏ chưa hình thành thành khối ở đâu đó trong cơ thể thì phải dùng tới hóa trị. Hóa trị lại là biện pháp “phá hại các tế bào ung thư” nhưng lại cũng làm ảnh hưởng đến tế bào khỏe mạnh và toàn bộ cơ thể, do “hóa chất” đưa vào đều là “chất độc diệt tế bào ung thư”. Nhiều người vì thế mà suy giảm hệ miễn dịch, không còn sức chống chịu với tiến trình điều trị. Để khắc phục những nhược điểm này, đồng thời nâng cao sức đề kháng, miễn dịch cho cơ thể, US – Procells hiện được xem là sản phẩm tối ưu.

US – Procells có chứa hoạt chất Phylamin, gồm 17 loại acid amin, 27 nguyên tố vi lượng, các flavonoid, phytosterol, các vitamin nhóm B (B1, B2, B6, B12…), vitamin C, Betacaroten và các loại đường đơn glucose, maltose, fructose…., tác động đến nhiều chức năng của cơ thể như quá trình miễn dịch, sinh trưởng, tác động lên hệ thần kinh, tim mạch, chống sự lão hoá, oxy hoá. Đặc biệt, các acid amin Arginin, cystein, L cystine, các chất vi lượng Mg, Mo, Se, chất chống oxy hoá giúp làm chậm sự phát triển khối u, giảm tác hại của tia phóng xạ, hạn chế các cơn đau của bệnh nhân ung thư. Song song với đó là nhóm Sterois, Germanium, Polysacchanride, Acid Ganoderic, Germanium có trong những loại thảo dược như Linh chi, Tỏi đen, Xạ đen, Sói rừng… chính là thành phần giúp ngăn chặn ung thư, kìm hãm tế bào ung thư phát triển
Tuy bệnh ung thư bao tử rất nguy hiểm và gây nguy cơ tử vong cao nhưng chúng ta vẫn có thể tầm soát chúng bằng việc đi khám sức khỏe định kỳ hoặc sử dụng các sản phẩm có nguồn gốc thảo dược để phòng ngừa bệnh ung thư. Khi có dấu hiệu bất thường của cơ thể thì tốt nhất hãy đi khám chữa trị kịp thời để ngăn chặn bệnh phát triển nặng hơn.

Cách chữa Ung Thư bao tử bằng thuốc Nam.
https://www.youtube.com/watch?v=Y6gY1_g_Fxo

------------
Xem thêm bài này :
Nguyên nhân, cách chữa bệnh bao tử, trào ngược thực quản, đau hang vị, bướu. ung thư
https://youtu.be/4HiUZfuV3Ls