Chủ Nhật, 17 tháng 11, 2019

Tiểu đường 30. Nguyên nhân ung thư tụy tạng

Video bài giảng : https://youtu.be/xBU8gL0IyYc

A-10 DẤU HIỆU BẤT THƯỜNG CẢNH BÁO SỚM UNG THƯ TỤY TẠNG.

1-Bệnh tiểu đường, đặc biệt là nếu xảy ra đột ngột.
Gần đây, bệnh viện Mayo Clinic, Hoa Kỳ công bố một kết quả nghiên cứu khá bất ngờ rằng 40% bệnh nhân ung thư tuyến tụy trước khi phát hiện được khối u thì đã mắc bệnh tiểu đường được 1-2 năm. Các nhà nghiên cứu cho rằng bệnh tiểu đường phát triển là do các khối u này nhưng không phát hiện được. Vấn đề là bệnh tiểu đường hiện khá phổ biến và phần lớn biến chứng tiểu đường không phải là ung thư tuyến tụy, do đó các bác sĩ đang cố gắng tìm ra giải pháp sàng lọc.


2-Vàng da hoặc mắt.
Chỉ cần một khối u rất nhỏ có thể chặn các ống dẫn mật trong đầu tuyến tụy, làm cho mật ứ lại, gây ra vàng da.

3-Ngứa da lòng bàn tay, bàn chân.
Tác dụng phụ ít được biết đến của vàng da là bàn tay và bàn chân ngứa. Đó là do da phản ứng với bilirubin, một sắc tố mật màu nâu vàng gây ra vàng da.

4-Mất cảm giác thèm ăn.
Một nghiên cứu ở Italia nhận thấy rằng, trước khi phát hiện ra khối u tuyến tụy từ 6-8 tháng, bệnh nhân đột nhiên cảm thấy chán ăn và thường thấy no mặc dù khi ăn rất ít.

5-Thay đổi khẩu vị.
Cũng trong nghiên cứu của các nhà khoa học Italia nói trên, một số bệnh nhân được khảo sát nói rằng bỗng dưng họ không còn thích hương vị của cà phê, rượu và thuốc lá, thậm chí còn cảm thấy “ghê” những mùi vị này.

6-Đau bụng.
Bệnh nhân ung thư tuyến tụy cho biết đó là những cơn đau kiểu gặm nhấm chứ không phải là đau nhói hay đau dữ dội, nó có xu hướng đẩy ra phía sau lưng. Một đặc trưng khác là cảm giác đau biến mất khi cúi người về phía trước.

7-Túi mật phình to.
Ống mật bị tắc nghẽn gây vàng da đồng thời cũng có thể khiến túi mật phì đại. Hiện tượng này có thể nhìn thấy trên các xét nghiệm hình ảnh, thậm chí có trường hợp bác sĩ cảm thấy được khi thăm khám.

8-Phân lỏng có mầu lợt, nổi, có mùi.
Khi một khối u tuyến tụy chặn đường đi của các enzym tiêu hóa đến ruột, kết quả là cơ thể không có khả năng tiêu hóa chất béo. Diểu này dẫn đến tỉnh trạng phân rời ra, nặng mùi ,nổi lều bều do chất béo dư thừa. Đặc biệt, các chuyên gia cho biết triệu chứng này là dấu hiệu sớm nhưng thường bị bỏ qua .

9-Phân có màu sậm hắc ín. Chảy máu trong ruột non gây ra triệu chứng này.

10-Đột ngột giảm cân không rõ lý do.
Nhiều người vẫn nghĩ rằng nếu giảm cân liên quan đến ung thư thì đó là loại ung thư liên quan đến gan, nhưng điều này có thể xảy ra vì thiếu men tụy, cơ thể không thể hấp thụ được chất béo nên dễ giảm cân.

B-Nguyên nhân ung thư :

Đảo tuỵ có 3 loại tế bào chính là các tế bào alpha, beta và delta.
Tế bào beta (chiếm khoảng 60% số lượng) tiết insulin.
Tế bào alpha (khoảng 25%) tiết glucagon.
Tế bào beta (khoảng 10%) tiết somatostatin.
Các hormon do từng loại tế bào của đảo tuỵ có tác dụng đến những hormon của tế bào khác: Ví dụ insulin có khả năng ức chế tiết glucagon, somatostatin ức chế tiết cả insulin và glucagon, làm giảm nồng độ của glucagon và insulin trong máu.

Theo Y Học Bổ Sung Khí Công Y Đạo, 2 nguyên nhân chính tụy tạng bị ung thư :

1-Nguyên nhân thứ nhất:
Mỗi khi ăn, bình thường thức ăn vào bao tử là cơ quan tiếp liệu đường và mỡ cho gan và tim vận chuyển khí khuyết tuần hoàn dẫn chất bổ đi nuôi tế bào, nhưng vì do ăn kiêng đường, tế bào thiếu đường, đường huyết thấp sau khi ăn dưới 6mmol/l đối với người hãnh diện "tôi không bị tiểu đường" làm chức năng tụy tạng mất quân bình chỉ sản xuất tế bào alpha, tiết glucagon sang gan phóng thích đường và mỡ trong gan và các cơ bắp giúp tim hoạt động tuần hoàn máu nuôi tế bào, cho đến khi đảo tụy sản xuất nhiều tế bào alpha mà gan không còn đường và mỡ dự trữ, thì chức năng của tụy bị rối loạn, dư thừa tế bào alpha, ngưng không sản xuất tế bào bete và delta, tụy tạng sẽ bị sưng thấy được bệnh nhân bị vàng da dẫn đến ung thư. Chức năng tụy tạng không còn khả năng tạo máu nuối tế bào, nuôi cơ bắp, bị teo mất cơ bắp làm sụt cân, không còn khả năng dẫn nước nên ứ nước trong ổ bụng, không còn khả năng dẫn khi, thiếu oxy bảo vệ công thức máu, hơi thở yếu....

2-Nguyên nhân thứ hai:
Đối với người bệnh tiểu đường, do không ăn đường, tụy sản xuất tế bào alpha sang gan cho gan phóng thích đường và mỡ trong cơ thể để nuôi tim hoạt động tuần hoàn khí huyết nuôi tế bào càng ngày càng cạn dần, nếu không tiêm insulin, thì tụy và gan còn cầm cự sự sống cho cơ thể được lâu dài, nhưng vì tiêm insulin, càng tăng liều, thì tim thiếu đường hoạt động thì càng suy tim, do đó vì bảo vệ sự hoạt động của tim duy trì sự sống cho cơ thể, tụy càng sản xuất nhiều tế bào alpha mà gan không còn lấy đường và mỡ ở đâu trong cơ thể được nữa, vì rút được bao nhiêu đường vào máu lại bị insulin cướp mất, càng rút nhiều đường thì càng tiêm insulin liều cao mục đích làm hạ đường mà đường không hạ làm chức năng tụy không còn khả năng điều tiết các loại hormon điều tiết lượng đường, lượng máu, lượng hồng cầu, mất khả năng dẫn khí, dẫn huyết, dẫn máu, tất cả bị ngưng tụ ứ đọng trong tụy khiến tụy bị ung thư, sưng trướng bụng vỡ bất cứ lúc nào.

Ung thư tuỵ tạng hay những bệnh liên quan đến tuỵ tạng đều rất nguy hiểm và bệnh nhân phải chịu đau đớn vô cùng.


C-CÁCH KHÁM VÀ CHỮA BỆNH THEO KHÍ CÔNG Y ĐẠO:

Dấu hiệu bệnh theo đông y khí công y đạo vọng, văn, vấn, thiết :

Vọng : Nhìn thân hình bệnh nhân hoặc béo phì thừa cân, hoặc sụt cân teo mất các cơ bắp, mặt trắng hay xanh hơi vàng do thiếu máu, thừa mỡ, mầu xanh do đau, mầu vàng do tỳ hư, teo cơ.

Văn : Nghe giọng nói, hơi thở, có giọng nói yếu ớt, nói đứt quãng do đau co thắt từng cơn, hơi thở ngắn, yếu, bụng trên sưng.

Vấn : Hỏi xem có phải đang dùng thuốc chữa tiểu đường, có phải đau co thắt vùng bụng trên vắt qua sườn trái sang lưng, chán ăn, hay đau nhiều sau khi ăn, đau nhiều khi nằm ngửa, hay buồn nôn, đi cầu nhiều lần phân bóng mỡ, bí tiểu hay tiểu nhiều lần..

Thiết : Sờ bụng đau có khối u, bướu cứng

Đo áp huyết 2 tay có 2 trường hợp thực chứng và hư chứng, mạch nhanh qúa hay chậm qúa.

Thực chứng thì Áp huyết 2 tay cao cà 3 số, đo đường huyết cao dù không ăn được mà dùng thốc tiểu đường không hạ, nguyên nhân do tuyến tụy không còn sản xuắt insulin nội, dùng insulin ngoại tiêm vào là rút hết đường trong cơ thể để duy trì sự sống kéo dài cho đến khi tim hết đường thì ngưng đập, hay dùng Metformin ức chế gan phóng thích đường làm rối loạn chức năng tụy điều chỉnh tế bào alpha và bêta làm cơ sở vật chất tụy bí sưng.
Hư chứng thì áp huyết thấp cà 3 số, đường huyết thấp, người gầy, chân tay lạnh, nhiệt độ thấp, mót đi tiêu nhiều lần mà phân không ra, chăn yếu sức đi không vững, pH 5-6.

Khi khám vọng văn vấn thiết, vẽ vòng tròn ngũ hành theo dấu hiệu bệnh :
Chán ăn, ăn không tiêu là thổ bệnh thuộc tỳ vị
Hơi thở yếu nói khẽ đứt hơi là phế bệnh, đi cầu nhiều lần mà phân không ra, không rặn ra đước là ruột già yếu thuộc kim.
Bí tiểu hay tiểu nhiều lần là thủy bệnh thuộc thận
Cơn đau co thắt từng cơn, mặt trắng xanh bạc nhược thiếu máu là mộc bệnh thuộc gan.
Buồn nôn, mạch nhanh qúa hay chậm qúa là hỏa bệnh thuộc tim.

Như vậy khi bệnh nặng làm 5 hành bệnh, chức năng khí hóa hấp thụ chuyển hóa suy giảm, đó là cách tìm gốc bệnh toàn diện, trong khi chỉ khám bệnh theo cục bộ là ngọn bệnh thì khi khạm chữa theo tây y, có giai đoạn chán ăn, ăn không tiêu thì tây y chữa bao tử, khi áp huyết cao thì chữa theo bệnh áp huyết, khi nhịp tim cao thì dùng thuốc cho hạ nhịp tim thấp, khi nhịp tim thấp quá thì gắn máy trợ nhịp tim. Khi đau gan thì dùng thuốc giảm đau, chụp hình nếu gan tổn thương thì cắt bỏ, khi hơi thở ngắn bị suyễn thì dùng thuốc xịt chữa suyển, khi thận hư thì lọc thận....như vậy chúng ta phải bị lệ thuộc vào 5 bác sĩ chuyên khoa theo dõi và dùng thuốc riêng của từng bệnh suốt đời thì cuối cùng ung thư bao tử do nhiều thuốc hóa chất chứa trong bao tử mà chức năng bao tử hư không hấp thụ chuyền hóa thuốc vào đến nơi bệnh hay các thuốc vào trong bao tử trở thành một hỗn hợp độc hại.

Tây y chữa theo từng cơ quan bệnh mà không chú trọng bổ khí huyết đường
Còn đông y chữa gốc các bệnh phải phục hồi lại chức năng tiêu hóa hấp thụ từ tỳ vị sao cho bệnh nhân ăn uống được tiêu hóa được, dùng những thức ăn bổ máu, bổ đường, tập kích thích bao tử co bóp chuyển khí, tiêu thức ăn, kết quả phải thấy được là tăng cân, đổi mầu da phải hồng hào tươi nhuận, áp huyết lọt vào tiêu chuẩn, thân nhiệt ấm, đi cầu ra phân vàng, biết thèm ăn, hơi thở sâu, tiếng nói mạnh mẽ, đi đứng nhanh nhẹn... nếu đo pH còn thấp thì môi trường máu còn acid thì tế bào vẫn bị đe dọa trở thành ung thư, nên phải uống 1 thìa cà phê baking soda pha 3 thìa đường cát vàng sau mỗi bữa cơm 30 phút thì uống, áp dụng trong 3 ngày, làm tăng thân nhiệt, tống độc virus, vi khuẩn, vi trùng, trong bao tử và đường ruột nếu còn có độc tố thì đi cầu ra phân xanh đen, cho đến khi phân ra sền sệt màu vàng thì pH trở lại trung tính pH 7-8 thì tế bào ung thư sống trong môi trường kiềm sẽ tự bị hủy diệt.
Đông y chú trọng đến chức năng tụy tạng bệnh là do thiếu máu, chán ăn, nên cần phục hồi chức năng cho tỳ bằng thuốc bổ tỳ vị, ăn uống thêm những chất bổ máu, tập bài Kéo Ép Gối kích thích lại chức năng của gan, tỳ để chuyển hóa thức ăn tạo máu.

Chúng ta lại khám bệnh bằng áp huyết luận theo ngũ hành và vẽ vòng tròn ngũ hành xem còn bao nhiêu hành bị bệnh, lại chữa theo một bệnh mới theo ngũ hành mới, bài tập thể dục mới, thay đổi cách ăn uống mới, khi khỏi bệnh thì phải bỏ thuốc.

Sau khi vẽ vòng ngũ hành, chúng ta thấy cơ quan tiếp liệu là tỳ ví hư, cơ quan bài tiết thải độc là thận hư, nên phải bổ tỳ vị là thổ cho mẹ là tim tự dưỡng, thổ mạnh phế và đại trường kim có lực làm mạnh phế và đại trường co bóp thải độc phân, bổ thện dương phục hồi chức năng thận lọc máu, cung cập máu và năng lượng cho gan điều chỉnh gan mật tiêu hóa loại độc tố trong gan, bổ thận thì phế đại trường tự dưỡng, như vậy cả 5 hành được phục hồi/ Khi phục hồi chức năng thận dương, thì thận thải những chết mà cơ thể dư thừa gây ra bệnh, và giữ lại chất bổ cho cơ thể nếu cơ thể thiếu.
Ngoài ăn uống bổ máu như ăn phở chay hay mặn, bổ đường, uống thuốc bổ tỳ giúp ăn ngon, thuốc bổ thận dương phục hồi chức năng lọc thận, tập khí công bài Kéo Ép Gối sau bữa ăn bổ tỳ vị, bài Vỗ Tay 4 Nhịp bổ tâm phế, bài Cúi Lạy bổ thận và lọc thận.
Để chữa theo dõi từng giai đoạn bệnh của ngũ hành, mỗi lần khám lại bằng máy đo áp huyết 2 tay, 2 chân, đường huyết, nhiệt kế, pH là vẽ một vòng tròn ngũ hành khác, cách chữa khác.
------------------

Đọc thêm bài viết dưới thêm nhiều chi tiết rõ ràng :

Chỉ số BMI là gì? Cách tính chỉ số BMI
BMI (Body Mass Index) chính là chỉ số cơ thể được các bác sĩ và các chuyên gia sức khỏe sử dụng để xác định tình trạng cơ thể của một người nào đó có bị béo phì, thừa cân hay quá gầy hay không. Thông thường, người ta dùng để tính toán mức độ béo phì
Nhược điểm duy nhất của chỉ số BMI là nó không thể tính được lượng chất béo trong cơ thể - yếu tố tiềm ẩn các nguy cơ liên quan đến sức khỏe tương lai.

Người lớn và BMI
Chỉ số BMI của bạn được tính như sau:
BMI = (trọng lượng cơ thể)/ (chiều cao x chiều cao).
- trọng lượng cơ thể: tính bằng kg;
- chiều cao x chiều cao: tính bằng m;

Chúng ta có thể tự đánh giá được chỉ số BMI của bản thân qua bảng thống kê ở dưới đây;
Từ bảng thống kê cho thấy các chỉ số BMI cơ bản dùng để đánh giá trọng lượng cơ thể như sau:
-Dưới chuẩn: BMI ít hơn 18.5
-Chuẩn: BMI từ 18,5 - 25
-Thừa cân: BMI từ 25-30
-Béo- nên giảm cân: BMI 30 - 40
-Rất béo– cần giảm cân ngay: BMI trên 40

Chỉ số BMI sẽ không chính xác nếu là vận động viên hoặc người tập thể hình (bởi các múi cơ luôn nặng hơn mỡ) và khi đó, chỉ số BMI sẽ nằm trong mức béo, rất béo. Nó cũng không chính xác với các bà bầu, đang cho con bú hay những người vừa ốm dậy.

Chế độ ăn nhiều thịt, mỡ, thịt xông khói theo kiểu phương Tây cũng làm tăng nguy cơ ung thư này. Người thường ăn trái cây tươi, rau tươi thì ít thấy bị ung thư tuỵ tạng. Ngoài ra, lượng lycopen (carotenoid có trong trái cây) và selenium trong huyết thanh thấp cũng dễ gây ung thư tuỵ tạng.
Yếu tố nguy cơ còn gặp ở những người có bệnh viêm tuỵ mạn tính, người bị nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori trong bao tử, những người có tiền sử cắt dạ dày hay cắt túi mật…
Uống 2 ly rượu mỗi ngày gây ung thư tuyến tụy.

Các triệu chứng cơ năng:
Đau bụng:
Thường gặp nhất, do khối bướu xâm lấn trực tiếp vào các mạng thần kinh của mạc treo ruột. Đau ở vùng bụng trên, đau như dao đâm, hướng đau vắt ngang lưng. Đau từng cơn, kèm cảm giác ăn mất ngon. Khoảng 80 – 85% bệnh nhân có triệu chứng đau được chẩn đoán ở giai đoạn trễ.
Đau từng cơn xuất hiện sau khi ăn 3-4h nhất là sau ăn mỡ (giống cơn đau sỏi mật), đau thường khu trú ở vùng thượng vị và hạ sườn trái lan ra sau lưng. Đau dữ dội chỉ có thể cắt cơn đau bằng thuốc giảm co thắt mạnh hoặc thuốc phiện, gặp trong cơn đau sỏi tụy.
Đau có cơn dữ dội xuất hiện đột ngột kéo dài vài giờ đến vài ngày khu trú ở nửa bụng trên, gặp trong viêm tụy cấp. Đau được giải thích do tắc đột ngột ống tụy chính, co thắt phù nề, viêm nhiễm, kích thích thần kinh đám rối dương.
Đau kéo dài gặp trong u tụy: U đầu tụy đau khu trú hạ sườn phải lan ra sau lưng, u đuôi tụy đau vùng mũi ức và hạ sườn trái. Đau tăng lên khi nằm ngửa, người bệnh phải gập thân lại mới đỡ đau.
Đau ê ẩm thường gặp ở viêm tụy mạn tính.
Buồn nôn và nôn:
Nôn nhiều mang tính chất phản ứng gặp trong viêm tụy cấp.
Rối loạn tiêu hoá:
Ăn mất cảm giác ngon, sợ thức ăn mỡ, hay trướng hơi đầy bụng, phân lỏng, phân nhão, phân bóng mỡ có mùi khẳn. Các triệu chứng này gắn liền với sự thiếu hụt các enzym tiêu hoá của tụy.
Sụt cân:
Do chán ăn, tiêu chảy, vã mồ hôi đầu.
Vàng da:
Vàng mắt, kèm theo ngứa ngáy, đi tiêu phân trắng, nước tiểu sậm màu.
Các triệu chứng biểu hiện đầu tiên còn tuỳ thuộc vị trí khối bướu. Bướu xuất hiện ở thân và đuôi tuỵ thường gây triệu chứng đau và sụt cân, trong khi bướu ở đầu tuỵ thường tạo triệu chứng vã mồ hôi đầu, sụt cân và vàng da.
Khám lâm sàng, sờ thấy khối bướu hay tình trạng bụng báng, sờ chạm túi mật dưới bờ sườn phải, hoặc hạch trên đòn trái.
Toàn thân:
Gầy sút nhanh kèm theo trạng thái suy nhược toàn thân rõ rệt.
Khi bệnh nhân đến khám đã bị vàng da, siêu âm bụng là phương tiện hình ảnh đầu tiên thường được sử dụng. Những hình ảnh như giãn đường mật, khối bướu vùng đầu tuỵ sẽ gợi ý cho chẩn đoán.


D-CÁCH KHÁM VÀ CHỮA THEO TÂY Y :

Kỹ thuật chụp cắt lớp CT với độ nhạy và độ chuyên biệt cao có thể phát hiện bệnh ngay khi bệnh nhân chưa có triệu chứng vàng da, hình ảnh qua chụp cắt lớp cho biết sự lan rộng tại chỗ hoặc di căn như hạch bạch huyết, di căn gan... Các bác sĩ còn thực hiện kỹ thuật chụp đường mật tuỵ ngược dòng qua nội soi – ERCP, nội soi dạ dày và qua đó dùng chất cản quang bơm vào đường mật, chụp X-quang để khảo sát.
Những kỹ thuật khác cũng hiệu quả trong việc cho hình ảnh để chẩn đoán là siêu âm qua nội soi – EUS (có độ chính xác cao); chụp cộng hưởng từ – MRI; chụp cắt lớp bởi bức xạ pôsitrôn; xét nghiệm “chất đánh dấu bướu” trong huyết thanh CA19– 9 (có giá trị trong việc theo dõi sau mổ và tiên lượng bệnh)…
Phẫu thuật sớm, sống lâu hơn
Ung thư tuỵ là bệnh lý ác tính khó phát hiện sớm, tiên lượng sống năm năm rất thấp. Tại Mỹ, phẫu thuật có thể trị khỏi ung thư này, nhưng không may là bệnh thường được chẩn đoán vào giai đoạn trễ, chỉ 15 – 20% bệnh nhân còn mổ được với

Tiên lượng rất xấu. Sống còn năm năm khoảng 25 – 30% khi hạch chưa bị di căn, và chỉ còn 10% khi đã có di căn hạch.
Hiện cách điều trị gồm các phối hợp đa mô thức: phẫu trị – hoá trị – xạ trị. Trong đó, phẫu thuật được chỉ định khi bệnh còn khu trú tại chỗ và ở giai đoạn sớm. Khi bệnh đã tiến xa hoặc di căn (di căn gan, lan tràn trong ổ bụng, bụng có dịch báng, đã có hạch trên đòn trái), là chống chỉ định mổ.

Loại phẫu thuật thứ nhất :
Thường được thực hiện gồm cắt khối tá tuỵ tiêu chuẩn (phẫu thuật Whipple), phẫu thuật có tính rộng lớn như phải cắt bỏ phần đầu tuỵ và khối bướu, cắt bỏ túi mật, cắt bỏ phần dưới của dạ dày và toàn bộ khung tá tràng, sau đó tái lập sự lưu thông của đường mật và dịch tuỵ.
Loại phẫu thuật thứ hai :
Là cắt khối tá tuỵ biến đổi, phương pháp này có sự khác biệt là giữ lại cơ vòng môn vị. Khi bệnh đã ở vào giai đoạn muộn, thể trạng bệnh nhân suy sụp kèm theo vàng da vàng mắt (do bị tắc mật bởi khối bướu ở đầu tuỵ). Bệnh nhân được các bác sĩ thực hiện nội soi dạ dày và qua đó sẽ đặt một ống thông (stent) vào trong đường mật, hoặc được phẫu thuật nối thông mật – ruột, hoặc mở túi mật ra da nhằm giảm ứ mật trong gan.
Hoá trị hỗ trợ hay xạ trị hỗ trợ, hoặc kết hợp hoá/xạ trị có thể cải thiện thời gian sống còn cho bệnh nhân. Hiện nay, điều trị hỗ trợ sau mổ với sự kết hợp giữa các thuốc đặc trị ung thư cùng tia phóng xạ, cho thấy thời gian sống còn của bệnh nhân kéo dài hơn.

Hầu hết những người khi được chẩn đoán mắc ung thư tuyến tụy thì bệnh đã ở vào giai đoạn phát triển và tiên lượng chỉ có thể sống được thêm 5 năm. Trong những năm gần đây, số bệnh nhân ung thư tuyến tụy tăng cao, khiến nhiều người thắc mắc: Liệu có bất kỳ dấu hiệu cảnh báo sớm của bệnh ung thư này hay không? Câu trả lời là có.
Nằm giữa dạ dày, gan và ruột, tuyến tụy chỉ dài 10-15cm, có hình dạng như con nòng nọc. Trong đó, “đuôi” của tuyến tụy là tế bào sản xuất insulin, và các khối u ở đoạn này thường là các khối u nội tiết. Chúng dễ chẩn đoán hơn nhưng các ca này rất hiếm. Còn ở “đầu” tuyến tụy là những tế bào sản xuất enzym tiêu hóa và các khối u ở đoạn này được gọi là khối u ngoại tiết. Dạng u này phổ biến nhất trong ung thư tuyến tụy và việc phát hiện cũng khó khăn hơn.
Là một căn bệnh khó chẩn đoán sớm, nhưng nếu có các dấu hiệu lạ dưới đây, mỗi dấu hiệu có thể có nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng xuất hiện 2 đến 3 dấu hiệu cùng lúc thì hãy đi kiểm tra, chụp chiếu để sớm tìm ra triệu chứng có liên quan đến ung thư tuyến tụy hay không.

Theo tài liệu y học tổng quát về ung thư tụy tạng ( pancreatic cancer) thì bệnh này không có triệu chứng báo sớm. Vì vậy khi được phát hiện bệnh thuờng đã ở giai đoạn tiến triển xa và bệnh nhân không có hy vọng sống quá năm năm
Nhưng thật ra cũng có những dấu hiệu báo trước ung thư tụy tạng. Tuy nhiên muốn hiểu các dấu hiệu và triệu chứng này thì điều quan trọng là chúng ta phải biết rõ tụy tạng nằm ở đâu và có chức năng gì .

Vị trí và sơ đồ cấu tạo của tuyến tụy :
Tụy tạng (pancreas) là một bộ phân cơ thể nằm sâu trong bụng, chỉ dài khoảng 4 tới 6 inch, có hình dạng giống con nòng nọc.
Ở “đuôi” (tail) tụy tạng có những tế bào sản xuất insulin, và những khối u ở phẩn đuôi này thuờng là khối u nội tiết (endocrinic tumors). Loại khối u này dễ phát hiện nhưng rất hiếm. Phía đầu (head) của tụy tạng có những tế bào sản xuất các enzim tiêu hóa và khối u ở đầu này cũa tụy tạng được gọi là khối u ngoại tiết (exocrine tumors). Loại khối u này thông thường hơn nhiều và khó phát hiện hơn
Cho rằng khối u tụy tạng không gây triệu chứng nào thì có phần không hợp lý. Sau khi đào sâu các báo cáo khoa học và dò hỏi các bệnh nhân về những gì họ nhớ lại, người ta đã lập ra được một danh sách dài những dấu hiệu và triệu chứng của ung thư tụy tạng cần phải dể ý.
Nếu xét riêng từng triệu chứng một, thì các triệu chứng trên có thể có nhiều nghĩa khác nhau. Nhưng nếu bạn thấy hai hay ba trong số những triêu chứng này xuất hiện thì bạn cần gặp bác sĩ để yêu cầu được rà (scan) bệnh. Kỹ thuật chụp hình công hưởng từ (MRI) đôi khi có thể dò thấy ung thư tụy tạng tùy theo vị trị của khối u.
Bạn hãy ghi lại tất cả các triêu chúng và báo cáo chi tiết cho bác sĩ Nếu bạn thuyết phục được bác sĩ là mối lo ngại của bạn chính đáng thì bác sĩ sẽ cho tiến hành các thử nghiệm như siêu âm, CT scan, nội soi kèm theo sinh thiết để tìm kiếm khối u tuỵ tạng Ngoài ra cũng còn có thể thử máu để xác định lượng chất đánh dấu sinh học (biomarker) CA- 19- 9
Ung thư tụy tạng có tỉ lệ gây tử vong rất cao, như trường hợp đáng buồn của nhà kinh doanh thiên tài Steve Jobs. (Steve Jobs và ung thư tụy tạng) Tuy nhiên nếu phát hiện sớm, bệnh nhân vẫn có thể được cứu và tiếp tục một cuộc sống phong phú. Diển hình là trường hợp của vị Chánh Án Tối Cao Pháp Viện Rub Bader
Ginsburg vẫn sinh hoạt bình thưởng sau khi cắt một bướu nhỏ nơi tụy tạng (theo Caring.com)
Ung thư tụy là một loại ung thư đường tiêu hóa. Trong đó, 2/3 ung thư tụy xảy ra ở phần đầu tụy, 1/3 còn lại ở đuôi và thân tụy. Biểu hiện lâm sàng của ung thư tụy theo từng vị trí tổn thương này hoàn toàn khác nhau. Mặc dù hiện nay đã có nhiều phương pháp xét nghiệm và thăm dò hiện đại nhưng việc phát hiện các khối u tụy nhỏ hơn 2cm cũng rất khó khăn. Thường sau khi khối u xuất hiện một thời gian mới có biểu hiện lâm sàng.

Ung thư đầu tụy:

Vàng da là hiện tượng thường gặp ở ung thư đầu tụy
Biểu hiện của ung thư đầu tụy thông thường là hiện tượng vàng da. Vàng da tăng dần nhưng không sốt, kèm theo các biểu hiện như vàng mắt, phân bạc màu, ngứa, sút cân, chán ăn… Đặc biệt, đau thượng vị cũng là biểu hiện hay gặp, cơn đau thường lan ra sau lưng. Tuy nhiên có những trường hợp chỉ biểu hiện vàng da đi kèm với đau vùng hạ sườn phải.
Ung thư thân và đuôi tụy:
Ở thể này, việc chẩn đoán trở nên khó khăn hơn, triệu chứng thường thấy là đau thượng vị, lan ra sau lưng. Để giảm bớt cơn đau, bệnh nhân nên ngồi chống gối và cúi người ra phía trước. Ngoài ra, một số biểu hiện toàn thân đi kèm như chán ăn, mệt mỏi, gầy sút, rối loạn tiêu hóa…
Ung thư đuôi tụy khó chẩn đoán hơn
Ung thư tụy có tính chất lan nhanh ra xung quanh đến tĩnh mạch mạc treo tràng trên, tĩnh mạch cửa, tá tràng và di căn hạch quanh tụy, cuống gan, hạch mạc treo tràng trên, hạch tạng.
Có đến 25 – 30% bệnh nhân khi được chẩn đoán ung thư tụy thì đã bị di căn, thường gặp nhất là di căn gan, phúc mạc, hiếm hơn là di căn xương và phổi.
Do đó, nếu bạn gặp bất cứ triệu chứng bất thường nào kể trên thì nên đến các bệnh viện chuyên khoa để khám và chẩn đoán bệnh kịp thời.

Đặc điểm giải phẫu, sinh lý:
Một số đặc điểm giải phẫu :
Tụy nằm sâu trong ổ bụng, nằm trước các đốt sống thắt lưng 1-2 . Mặt trước của tụy sát với mặt sau của dạ dày, từ đoạn 2 của tá tràng đi chếch lên trên từ phải sang trái đến rốn lách.
Phần đầu tụy và thân tụy được dính vào thành bụng sau bởi cân mạc treo, chỉ có đuôi tụy di động trong mạc nối tụy-lách.
Tụy nặng khoảng 70-80g, màu hồng nhạt, chiều dài từ 15-20cm, chiều ngang từ 4-
5cm, chiều dầy 2-3cm.
Tụy chia thành: Đầu tụy, thân tụy, đuôi tụy.

Tụy có 2 ống bài xuất: Ống Wirsung từ đuôi tụy đến đầu tụy, cùng với ống mật chủ đổ vào đoạn II của tá tràng. Chỗ đổ chung của ống mật chủ và ống Wirsung ở đoạn II tá tràng gọi là bóng Vater (núm ruột tá lớn). Ống Santorini ở đầu tụy phía trên ống Wirsung đổ vào đoạn II tá tràng(gọi là núm ruột tá nhỏ). Bình thường ống Santorini là một nhánh của ốngWirsung(nhánh phụ) nếu bị tắc ở phần cuối của ống Wirsung thì ống này trở thành ống bài xuất chính,

Các mối liên quan:
Bên phải: Đầu tụy kết hợp chặt chẽ với khung tá tràng.
Bên trái: Liên quan chặt với lách trong mạc nối tụy-lách.
Mặt sau tụy: Liên quan chặt chẽ với tĩnh mạch lách, tĩnh mạch mạc treo tràng trên và thân tĩnh mạch cửa.
Một số đặc điểm sinh lý :
Tụy nội tiết: Các tiểu đảo Langherhans nằm trong tiểu thùy, rải rác giữa các tuyến nang, bài tiết insulin và glucagon.
Tụy ngoại tiết: Tuyến kiểu chùm nho được cấu tạo bởi tế bào hình tháp đỉnh qui tụ vào khoảng trung tâm, từ đây dịch tụy đổ vào các ống trong tiểu thùy, gian tiểu thùy vào ống tụy.
Tụy ngoại tiết giữ vai trò quan trọng trong quá trình tiêu hoá protein, cacbonhydrat và lipid.
Tiết nước và điện giải: Dịch tụy được bài tiết ra khoảng 1-1,5lít/24h. Dịch tụy trong suốt, quánh, phản ứng kiềm pH khoảng 8,4.
Dịch tụy chứa nhiều chất khoáng như: Clo, natri…Tụy tiết các chất khoáng dưới ảnh hưởng của gastrin dạ dày, phức hợp cholecystokinin-pancreozymin tá tràng, acetylcholin và thần kinh phế vị.
Tiết các enzym tụy:
Các enzym tiêu hoá protein được tổng hợp dưới dạng những tiền chất không có hoạt tính và trở thành hoạt hoá khi xuống tới ruột, các enzym đó là: en opeptiase (trypsin, chymotripsin A.B, elastase; excopeptidase và endonuclease).

Các enzym tiêu hoá cacbohydrat chủ yếu là amylase biến đổi amidon thành dextrin và maltose.
Các enzym tiêu hoá lipid biến đổi mỡ trung tính thành glycerin và acid béo, ngoài ra còn có phospholipase và lecithinase, cholesterol-esterase.
Tìm hiểu các nhân tố liên quan đến viêm như:
Lạm dụng uống rượu, ăn quá nhiều mỡ, có bệnh lý bộ máy tiêu hoá như viêm túi mật, viêm ruột thừa…
Vàng da, tắc mật: tiến triển tăng dần, vàng da như nghệ có thể kèm theo ngứa, có thể xuất huyết gặp trong u đầu tụy.
Các triệu chứng thực thể:
Nhìn:
Vàng da với vết gãi xước trên da, xuất huyết dưới da trong u đầu tụy.
Viêm tụy cấp: da nhợt nhạt tím tái, rối loạn hô hấp, tuần hoàn do trạng thái nhiễm
độc nặng.
Viêm tụy mạn tính rối loạn tiêu hoá kéo dài đưa đến tình trạng toàn thân: Da khô, nhăn nheo, gầy, suy kiệt toàn thân.
Trong u nang nước tụy quá lớn có thể thấy vùng thượng vị gồ cao.

Sờ:
Viêm tụy cấp: sờ vùng thượng vị đau, co cứng cơ bụng vùng hạ sườn trái. Co cứng thành bụng phía trước trên hình chiếu của tụy. Sờ tụy nên sờ vào lúc đói, sáng sớm, lúc dạ dày rỗng. Ở những bệnh nhân gầy có thể sờ theo phương pháp sờ sâu trượt, đè cơ quan được sờ vào phía sau của ổ bụng, đẩy dạ dày lên phía trên khi bệnh nhân thở ra ấn tay sâu vào ổ bụng tới thành sau, trượt từ trên xuống dưới.
Bình thường tụy nằm ngang sờ vào không đau.

Viêm tụy mạn:
U thân, đuôi tụy có thể sờ thấy khối cứng, mấp mô ấn vào hơi đau. Vì tụy ở rất sâu nên khi sờ rất dễ nhầm với các khối u của dạ dày, khối hạch lympho, u đại tràng ngang…
Điểm tá-tụy, vùng tam giác tá-tụy-ống mật (tam giác Chauffar ) đau trong viêm tụy cấp.
Điểm Mayo- Robson (điểm sườn sống lưng bên trái) đau…
Gõ:
Bụng trướng hơi, gõ trong toàn bộ bụng thường gặp trong viêm tụy cấp hoặc đợt tiến triển của viêm tụy mạn.
Với bệnh lý viêm tụy cấp, mạn dấu hiệu cơ năng rầm rộ nhưng ngược lại dấu hiệu thực thể nghèo nàn.

Thăm khám cận lâm sàng

Xét nghiệm dịch tụy:
Luồn sonde Einhorn vào đoạn II tá tràng hoặc thông 2 cần một ở trong dạ dày, một ở tá tràng giúp cho lấy dịch tụy tinh khiết, chất kích thích tiết dịch tụy là secretin hoặc pancreozymin. Trong các enzym dịch tụy chú trọng nhất là: amylaza, lipase và trypsin.
Amylase: Ít dùng xét nghiệm vì có nhiều nguyên nhân làm sai lệch kết quả.
Lipase: Theo phương pháp Bondi, bình thường khả năng tiêu mỡ của lipase là 30-60 đơn vị.

Tripsin: Theo phương pháp Ganllier bình thường khả năng tiêu hoá gelatin của tripsin là 7,5-12,5 đơn vị.
Lấy dịch tụy: Nghiệm pháp secretin: sáng sớm đặt sonde Einhorn vào tá tràng hút hết dịch (kiểm tra pH khoảng 8) thì tiêm secretin 3 đơn vị/kg cân nặng, tiêm tĩnh mạch trong 2 phút. Sau đó cứ 10 phút lấy một mẫu. Trong 1 giờ ghi số lượng và cung lượng bicacbonat của mỗi mẫu.
Số lượng dịch giảm, nồng độ bicacbonat bình thường, cung lượng bicacbonat giảm, gặp trong u đầu tụy, sỏi ống tụy.
Số lượng dịch giảm, nồng độ và cung lượng bicacbonat giảm gặp trong viêm tụy mạn tính.

Xét nghiệm máu:
Amylase huyết thanh:
Bình thường hoạt độ amylase máu bằng 32 + 4 đơn vị Wohlgemuth/1ml, 130 + 4 đơn vị Somogyi/100ml huyết thanh, Amylase < 220 U/l (370C).
Tăng cao trong viêm tụy cấp tính, nhất là trong những ngày đầu, ngoài ra còn tăng trong viêm tụy mạn, ung thư tụy.
Lipase huyết thanh:
Phương pháp Comfort.M. hoạt độ tiêu mỡ theo ml NaOH, bình thường 0,2-1,5 ml NaOH N/20 (< 277UI/l).
Hoạt độ tăng trong viêm tụy và trong ung thư tụy, loét dạ dày-tá tràng thủng vào tụy, tăng chậm hơn amylase nhưng giữ lại ở huyết thanh lâu hơn.
Nghiệm pháp glucose-amylase:
Chức năng ngoại tiết của tụy kích thích khi nồng độ Glucose máu tăng, cho bệnh nhân uống glucose 0,7g/kg cân nặng, sau đó cứ 30 phút định lượng glucose máu và amylase huyết thanh trong 2h, vẽ đường biểu diễn.

Bình thường nồng độ glucose máu và amylase huyết tương đều tăng. Nếu amylase huyết tương không tăng, không giảm trong khi glucose vẫn tăng, thường gặp trong ung thư tụy, viêm tụy mạn.
Xét nghiệm nước tiểu:


Amylase niệu trung bình 16-32 U/ml, tính theo phương pháp Wohlgemuth nhỏ hơn 1310U/l. + Amylase tăng cao trong viêm tụy cấp và kéo dài trong viêm tụy mạn hoặc u tụy có tăng nhưng ít hơn.Trong bệnh lý của tụy do ứ đọng của dịch tụy, men tụy đi vào máu rồi thải qua nước tiểu. Xét nghiệm men tụy ở trong máu và ở nước tiểu cùng thời gian nếu chúng tăng song song thì rất có giá trị trong chẩn đoán.

Xét nghiệm phân:
Rối loạn chức năng ngoại tiết liên quan tới hấp thu hợp phần thức ăn trong đó chủ yếu là protid và lipid.
Khối lượng phân nhiều, có màu nâu xám, mùi khẳn, bóng mỡ:
Nếu lipase ít: Cho phân vào nước thấy váng mỡ nổi lên trên mặt nước, xem trên kính hiển vi thấy rõ các hạt mỡ. Do thiếu lipase nên mỡ chưa tiêu hoá thành glycerol và acidbéo để hấp thu.
Nếu tripsin ít: Xem trên kính hiển vi thấy các sợi cơ chưa được tiêu hoá hết.

X quang:
Chụp bụng không chuẩn bị:
Chỉ phát hiện sỏi trong ống tụy hoặc các hình vôi hoá tổ chức tụy thường tương ứng với vị trí đoạn cột sống thắt lưng 2 và 3 gặp ở bệnh nhân viêm tụy mạn.
Chụp dạ dày-tá tràng:
Tụy to đẩy dạ dày lệch về phía trước và sang trái.
Khung tá tràng bị giãn rộng hoặc các mặt của tá tràng thấy những vết ấn khuyết do bị ép trước sau, bờ trong của đoạn II tá tràng cứng và thẳng. Vết ấn hình số 3 ngược ở đoạn II tá tràng gặp trong ung thư bóng Vater ( ấu hiệu Prostberg).
Trong u đầu tụy chụp x quang thấy khung tá tràng giãn rộng; u nang tụy ở thân hoặc đuôi tụy thì vòng cung lớn của dạ dày bị kéo giãn ra.
Chụp các đường dẫn mật:
Phát hiện sỏi túi mật.

Ống mật chủ đoạn sau tụy hẹp kiểu đồng hồ cát gặp trong viêm tụy mạn tính.
Hẹp ống mật chủ ở đoạn sát bóng Vater, đoạn trên giãn gặp trong viêm cơ tròn Oddi hoặc ung thư bóng Vater.
Chụp mật-tụy ngược dòng:
Phương pháp này sử dụng tốt cho chẩn đoán bệnh lý gan-mật-tụy.
Chụp X quang các mạch máu:
Chụp động mạch siêu chọn lọc bằng cách thông các động mạch vị-tràng, lưng tụy hoặc cung tụy tràng.
Giúp đánh giá viêm tụy mạn hoặc các khối u tụy, đặc biệt ung thư tụy, xem xét sự xâm lấn đến các mạch máu lớn, di căn đến cơ quan lân cận như gan, dạ dày…
Chụp cắt lớp vi tính (CT):
Là phương pháp thămò hình thái học tụy tạng, nhu mô tụy, ống tụy, phát hiện các biến chứng của viêm tụy cấp như nang giả tụy, khối dịch cạnh tụy.
Đồng vị phóng xạ:
Dùng đồng vị phóng xạ 75Se gắn methionin. Dung dịch phóng xạ tiêm vào tĩnh mạch bệnh nhân, sau 30 phút kiểm tra nhấp nháy phóng xạ xem xét mức độ tích tụ nhanh và thời gian lưu giữ ở tụy cùng với thành phần chất đồng vị phóng xạ bài tiết theo dịch tụy xuống ruột.
Trong trường hợp viêm nhiễm, xơ teo lan rộng nhu mô tụy thì sự hấp thu chất đồng vị phóng xạ giảm đi rõ rệt trên nhấp nháy đồ. Nếu có khối u hoặc nang tụy thể hiện khoảng thiếu hụt của vùng không có nhu mô tụy.

Nội soi:
Soi ổ bụng:
Do tụy nằm sâu trong ổ bụng nên hạn chế quan sát trực tiếp tụy. Nếu cho bệnh nhân nằm nghiêng có thể quan sát tụy qua mạc nối nhỏ cùng với sinh thiết tụy qua soi ổ bụng.
Người ta nhìn thấy những dấu hiệu gián tiếp của viêm tụy cấp, do những vết hoại tử mỡ màu trắng xám, to nhỏ không đều trên mạc nối và màng bụn.
Trong ung thư tụy có thể nhìn thấy di căn của ung thư vào màng bụng hoặc vào gan, thanh mạc của dạ dày…
Hình ảnh gan ứ mật màu xanh, túi mật căng to (định luật Courvoisier Terrier): Trên lâm sàng khi thấy túi mật to phải nghĩ tới u tụy.
Soi tá tràng bằng ống soi mềm:
Luồn cathether qua núm ruột tá tràng để chụp ống mật chủ và ống Wirsung. Đây là phương pháp giúp quan sát trực tiếp hình ảnh của ống tụy qua vô tuyến x quang trong khi soi.
Ống Wirsung khúc khủyu, bị hẹp nhiều tầng, hình chuỗi hạt gặp trong viêm tụy mạn.
Khối u của tụy làm ống tụy bị hẹp, bị gặm nhấm hoặc bị cắt cụt do khối u đè ép.

Siêu âm:
Do vị trí giải phẫu của tụy nằm sâu trong ổ bụng nên các phương pháp thăm khám lâm sàng bị hạn chế. Trước khi có sự phát triển của chụp cắt lớp vi tính (CT) thì siêu âm là phương pháp duy nhất cho hình ảnh tụy một cách trực tiếp.
Để thăm dò tuyến tụy người ta dùng siêu âm 2 chiều có thể xác định vị trí của tụy, đo kích thước của đầu tụy, thân tụy, đuôi tụy, xem xét nhu mô tụy.
Theo Francio S. Weill (1989): Nhờ có siêu âm đã phát hiện được u nang nước ở tụy có kích thước từ 1-2cm.
Tuy nhiên siêu âm tụy cũng bị hạn chế khi bụng trướng hơi, sẹo mổ lớn ở bụng hoặc bệnh nhân quá béo làm cản trở tia siêu âm.